Cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng nhân cách con người theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giaI đoạn hiện nay
Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Lâm Đồng
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh không có tác phẩm nào bàn riêng về con người, nhân cách con người, nhưng trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề con người, nhân cách con người luôn được coi trọng như mục tiêu thiêng liêng, cao cả của sự nghiệp cách mạng, nó thấm đượm và thường trực trong toàn bộ cuộc đời hoạt động của Người, nó được tỏa sáng trong từng việc làm, cử chỉ, hành vi ân cần, tôn trọng, quan tâm đến từng người và mọi người.
Bàn về nhân cách, ở phương Đông có nhiều quan niệm khác nhau. Người sáng lập Nho giáo là Khổng Tử đưa ra quan niệm về nhân cách gồm ba yếu tố: Trí, nhân, dũng. Quan niệm tương đối thống nhất của các nhà hiền triết phương Đông là nhân cách gồm: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Các cấu trúc nhỏ này thống nhất với nhau, trong đó Nhân là cốt lõi, là gốc của nhân cách, định hướng phát triển cho các cấu trúc còn lại trong nhân cách.
Theo thuyết phân tâm của S.Frued, thuyết siêu phẳng và bù trừ của A.Adler về nhân cách con người là gì cho rằng: Nhân cách là khái niệm chỉ bao hàm phần xã hội, tâm lí của cá nhân, đó là một con người với tư cách là một thành viên của một xã hội nhất định, là chủ thể của các quan hệ người - người, của hoạt động có ý thức và giao lưu.
Còn các nhà tâm lí học theo quan điểm của Mác-xít đều cho rằng khái niệm nhân cách phải là một phạm trù xã hội chứ không thể thuần tâm lí. Cụ thể: Nhân cách là một cá nhân có ý thức, chiếm một vị trí nhất định trong xã hội và đang thực hiện một vai trò nhất định.
A.G.Goovaliôp lại cho rằng: Nhân cách là con người với tư cách là kẻ mang toàn bộ thuộc tính và phẩm chất tâm lí đang quy định những hình thức hoạt động và những hành vi có ý nghĩa xã hội.
Mặc dù có các định nghĩa khác nhau liên quan đến giải thích nhân cách con người là gì? nhưng có thể nhận thấy các nhà tâm lí học Mác-xít đều thống nhất với nhau ở quan điểm: “Nhân cách là tổ hợp những thuộc tính tâm lý của một cá nhân biểu hiện ở bản sắc và giá trị xã hội của người ấy”…
Từ đó ta có thể hiểu: Nhân cách hình thành qua thái độ, ứng xử giữa người với người, con người với xã hội và con người với môi trường.
2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về nhân cách con người và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân cách con người trong tình hình mới
Trong vấn đề con người, điều mà Hồ Chí Minh quan tâm nhất đó là con người Việt Nam, những quan hệ xã hội trong xã hội Việt Nam, Người đã nêu rõ ý kiến riêng, quan điểm của mình khi tiếp thu những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, những ý kiến, quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về con người. Quan điểm của Người về con người và nhân cách con người đều xuất phát từ thực tiễn, Người đưa ra những quan điểm chủ yếu về con người rất độc đáo mà rất thiết thực. Người định nghĩa về con người: “Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em họ hàng, người thân, bạn bè, nghĩa rộng là đồng bào cả nước, rộng nữa là cả loài người”[1].
Những luận giải về nhân cách của Người đến nay đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và nhận định: Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân cách là hệ thống, khoa học, nhân văn và toàn diện nhất. Đó là cách tiếp cận đi từ nhận thức về nhân cách, cấu trúc nhân cách, con đường hoàn thiện nhân cách, đặc biệt là đối với nhân cách của người cán bộ cách mạng.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân cách con người là một vấn đề có ý nghĩa to lớn cả lý luận và thực tiễn, là mối quan tâm hàng đầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Quan điểm của Người về nhân cách là kết hợp hài hòa truyền thống của dân tộc Việt Nam với tiếp thu những tinh hoa của nhân loại, đặc biệt là chủ nghĩa nhân đạo cao cả của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.Lênin. Trong đó, việc tiếp thu quan điểm của Nho giáo được coi là có tính chủ đạo nhất.
Theo nhân sinh quan của tư tưởng Nho giáo, người quân tử được coi là người có những hành động ngay thẳng, công khai theo lẽ phải và không khuất tất vụ lợi cá nhân. Người quân tử là người có các đức tính trong ngũ thường: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín, trong đó Nhân là yếu tố quan trọng nhất.
Vận dụng quan niệm của Nho giáo về người quân tử, Hồ Chí Minh cho rằng con người trong bất kỳ xã hội nào, giai cấp tầng lớp nào cũng đều có ba mối quan hệ cơ bản:
Đối với mình, không được tự cao, tự đại, tự phụ, phải khiêm tốn học hỏi, phát triển cái hay, sửa đổi cái dở của mình.
Đối với người, không nịnh người trên, không khinh kẻ dưới, thật thà, không dối trá.
Đối với việc, phải để việc công lên trên, lên trước. Việc thiện, nhỏ mấy cũng gắng hết sức mà làm; việc ác, dù nhỏ đến mấy cũng phải hết sức tránh.
Khi nêu quan điểm về nguồn gốc của nhân cách con người, Hồ Chí Minh cho rằng, đạo đức không phải từ trên trời sa xuống, nó do rèn luyện hàng ngày mà hình thành, cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong. Trong bài thơ “Nửa đêm” của Người đã phần nào giải đáp câu hỏi về nguồn gốc thiện và ác trong nhân cách của con người: Khi ngủ ai cũng như lương thiện/ Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ, hiền/ Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn/ Phần nhiều do giáo dục mà nên. Ẩn sâu trong những câu chữ ấy là một tư tưởng, triết lý giáo dục thấm đượm tinh thần nhân văn, được đúc rút từ chính cuộc đời hoạt động cách mạng và quy luật muôn đời của cuộc sống. Bản tính, nhân cách của mỗi người không phải do trời sinh mà căn bản, quan trọng là do sự giáo dục của gia đình, nhà trường, xã hội, nhất là sự nỗ lực, cố gắng của bản thân mà có. Quan điểm của Người không thần thánh hóa theo kiểu duy tâm mà coi nhân cách như là một yếu tố động, bởi từ lúc chào đời cho đến giai đoạn trưởng thành thì cá nhân bao giờ cũng chịu sực tác động của một hệ thống các yếu tố xung quanh, đồng thời con người cũng là chủ thể của các hoạt động và giao tiếp.
Khi tiếp thu, vận dụng quan điểm tiến bộ của Nho giáo, Hồ Chí Minh đưa ra những chuẩn mực cơ bản của người cách mạng gồm 10 yếu tố: Hiếu, Dũng, Nhân, Trí, Thiện, Nghĩa, Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Trong đó, Thiện là yếu tố cơ bản nhất quyết định đến sự phát triển nhân cách con người, bởi vì Người cho rằng, việc thiện dù nhỏ đến mấy nhưng đem lại lợi ích cho dân, cho nước cũng nên cố gắng hết sức để làm; việc ác dù nhỏ cũng phải hết sức tránh.
Khi bàn về nhân cách con người, Hồ Chí Minh nhấn mạnh thêm về vai trò của các đức tính, lối sống cần thiết hàng ngày của mỗi cá nhân: Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông/ Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc/ Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính/ Thiếu một mùa, thì không thành trời/ Thiếu một phương, thì không thành đất/ Thiếu một đức, thì không thành người.
Ở lời dạy này, Bác đã gắn ba phạm trù Thiên, Địa, Nhân - Trời, Đất, Con người (Tam tài) để nêu bật một vấn đề cốt lõi về nhân cách con người của chế độ mới.
Hồ Chí Minh còn nêu ra mối liên hệ khăng khít của các phạm trù này:
Chữ Liêm phải đi đôi với chữ Kiệm
Chữ Kiệm phải đi đôi với chữ Cần
Cần, Kiệm, Liêm là gốc của Chính
Một người “cần kiệm liêm” thì chưa đủ mà còn phải “chính” thì mới hoàn thiện. Tự mình phải chính trước mới giúp được người khác chính. Mình không chính mà muốn người khác chính là vô lý.
Nói rộng ra, theo Hồ Chí Minh một dân tộc biết cần kiệm, biết liêm là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ.
Khi nghiên cứu về quan điểm của Hồ Chí Minh về nhân cách con người, có thể thấy các giá trị: Trung - Hiếu, Nhân – Trí - Dũng, Cần- Kiệm – Liêm -Chính… đã được Người xác định cho thanh niên, học sinh việc rèn luyện nhân cách theo các mục tiêu:
“- Yêu tổ quốc: Cái gì trái với quyền lợi của Tổ quốc, chúng ta kiên quyết chống lại.
- Yêu Nhân dân: Việc gì hay người nào phạm đến lợi ích chung của Nhân dân chúng ta kiên quyết chống lại.
- Yêu lao động: Ai khinh rẻ lao động, chúng ta kiên quyết chống lại.
- Yêu khoa học: Cái gì trái với khoa học chúng ta kiên quyết chống lại.
- Yêu đạo đức: Chúng ta phải thực hiện đức tính trong sạch, chất phác, hăng hái, cần kiệm xóa bỏ hết những vết tích nô lệ trong tư tưởng và hành động”.
Người cũng khuyên họ luôn phải có động cơ học tập đúng đắn với việc đề ra câu hỏi “Học để phụng sự ai và Người góp ý:
Để phụng sự Tổ quốc, phụng sự Nhân dân, làm cho dân giàu nước mạnh tức là để làm trọn nhiệm vụ người chủ của nước nhà.
Học phải đi đôi với hành: Khi ở nhà phải thương yêu cha mẹ, giúp đỡ cha mẹ về công việc, giúp đỡ về tinh thần.
Ở trường thì phải đoàn kết giúp đỡ anh chị em thi đua học tập, phải đoàn kết giữa thầy và trò cho trường mình luôn luôn tiến bộ.
Ở xã hội: Các cháu có thể giúp được nhiều việc có ích. Thí dụ tuyên truyền vệ sinh, giúp đỡ các em nhi đồng, xung phong dạy bình dân học vụ”…
Con đường hình thành và phát triển nhân cách con người, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luận giải một cách sâu sắc quá trình phát triển nhân cách theo lứa tuổi và đòi hỏi những yêu cầu khác nhau của các đối tượng như: cán bộ, đảng viên, thanh niên, em nhỏ, người già... Tự tu dưỡng, rèn luyện - đây là con đường quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp trong việc hình thành và phát triển, hoàn thiện nhân cách cán bộ, là phát huy nội lực của mỗi người. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra con đường cơ bản cho người cán bộ cách mạng tự vươn lên hoàn thiện mình, đó là phải học tập, rèn luyện bền bỉ suốt đời. Để tu dưỡng, rèn luyện đạt kết quả, đòi hỏi trước hết mỗi cán bộ, chiến sĩ phải nêu cao tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình. Người dạy: “trên con đường phát triển cách mạng của mình, Đảng ta, quân đội ta cũng như mỗi đồng chí chúng ta luôn luôn có ưu điểm và không tránh khỏi có khuyết điểm. Chỉ có không ngừng đấu tranh, phê bình và tự phê bình, nhận rõ đúng sai, phát huy cái đúng, khắc phục cái sai mới có thể làm cho mình, cho Đảng, cho cách mạng tiến bộ mãi”[2].
Và theo Người, muốn tự cải tạo được bản thân để tự mình hoàn thiện nhân cách thì mỗi cán bộ phải tự nhận thức được những ưu điểm và khiếm khuyết của mình để tự giác, tự xây dựng kế hoạch, đề ra mục tiêu, thời gian sửa chữa, học tập, rèn luyện, tu dưỡng để hoàn thiện nhân cách. Quá trình tự hoàn thiện, tự giáo dục, tự rèn luyện nhân cách không phải là công việc tự giác nhất thời mà là quá trình phấn đấu thường xuyên, liên tục, có chủ định. Vấn đề này được Người đúc kết ở 4 câu thơ: “Gạo đem vào giã bao đau đớn. Gạo giã xong rồi trắng tựa bông. Sống ở trên đời người cũng vậy. Gian nan rèn luyện ắt thành công”.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đối với mỗi người cán bộ thì việc tu dưỡng rèn luyện phải được thực hiện thông qua hoạt động thực tiễn của bản thân; trong sinh hoạt học tập, chiến đấu, công tác, trong các mối quan hệ với Tổ quốc, xã hội, Đảng, Nhân dân và bản thân. Thông qua hoạt động thực tiễn, người cán bộ biết điều chỉnh hành vi của mình và cũng thông qua thực tiễn phẩm chất nhân cách của mỗi người được thể hiện rất cụ thể, phong phú, đa dạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Trường kỳ kháng chiến là một viên đá thử vàng đối với mỗi một quốc dân, đồng thời là một trường học để rèn luyện cho cán bộ”[3]. Chỉ có thông qua hoạt động thực tiễn, thông qua quá trình tu dưỡng rèn luyện công phu mới có được phẩm chất nhân cách tốt đẹp và phẩm chất ấy ngày càng được bồi đắp, nâng cao, hoàn thiện. Người cũng khẳng định rõ mối quan hệ mật thiết giữa lý luận và hoạt động thực tiễn, đây là mối quan hệ biện chứng, quan hệ chặt chẽ. Thực tiễn cần tới lý luận soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo, hướng dẫn, định hướng để không mắc phải bệnh kinh nghiệm, còn lý luận phải dựa trên cơ sở thực tiễn, phản ánh thực tiễn và phải luôn liên hệ với thực tiễn, nếu không sẽ mắc phải bệnh giáo điều. Nghĩa là thực tiễn, lý luận cần đến nhau, nương tựa vào nhau, hậu thuẫn, bổ sung cho nhau.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân cách là một đóng góp quan trọng cho kho tàng lý luận về nhân cách. Người cán bộ cách mạng là người giữ trọng trách trong bộ máy quan trọng càng cần có đức tính hy sinh cho lợi ích của Đảng, của Tổ quốc. Điều này càng đặc biệt quan trọng trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, khi các lợi ích được đẩy lên cao đặt ra cho mỗi người cần có quan điểm, suy nghĩ, hành động đúng đắn trong mối quan hệ với lợi ích tập thể và lợi ích của Tổ quốc. Người cán bộ phải luôn thấm nhuần quan điểm của Hồ Chí Minh: “Việc gì có lợi cho dân dù nhỏ cũng cố làm; việc gì có hại cho dân dù nhỏ cũng cố tránh”.
Vận dụng tư tưởng của Người về nhân cách người cán bộ cách mạng, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định vai trò, vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng của giá trị văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam, tạo cơ sở để xây dựng hệ giá trị văn hóa gắn kết chặt chẽ, nhuần nhuyễn với xây dựng chuẩn mực con người Việt Nam. Bởi lẽ, con người là chủ thể sáng tạo giá trị vật chất và giá trị tinh thần, phục vụ cho nhu cầu chính mình và xã hội. Với tư cách chủ thể, nguồn lực quan trọng nhất và mục tiêu của sự phát triển, xây dựng con người Việt Nam đặt ra việc phát huy giá trị văn hóa gắn liền với giữ gìn, bảo vệ, hoàn thiện hệ giá trị chuẩn mực con người và khơi dậy tiềm năng, trí tuệ, sức sáng tạo của con người trong các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Đồng thời, Văn kiện Đại hội XIII cũng yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người lãnh đạo, cần phải phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu, nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng; kiên quyết đấu tranh chống các quan điểm, hành vi phản đạo đức, phi đạo đức và phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và hạnh phúc của Nhân dân. Thực hiện có hiệu quả việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh; đẩy mạnh xây dựng và chỉnh đốn Đảng toàn diện gắn với xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh cải cách hành chính, thực hành dân chủ sâu rộng gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và trong xã hội, tạo điều kiện để “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”...
Gần đây nhất, Kết luận 21-KL/TW của Bộ Chính trị khoá XIII cũng đã chỉ ra: “đề cao trách nhiệm nêu gương, ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu các cấp; thực hiện nghiêm các quy định nêu gương của Đảng, quy định của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm, cán bộ giữ cương vị càng cao càng phải tiên phong, gương mẫu. Nghiên cứu, bổ sung hoàn thiện chuẩn mực đạo đức cách mạng của đảng viên, đạo đức công vụ, chuẩn mực, giá trị con người Việt Nam phù hợp với truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc làm cơ sở cho cán bộ, đảng viên, đội ngũ công chức, viên chức rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, ý thức sâu sắc hơn trách nhiệm của mình trước Đảng và Nhân dân”… đây là những chỉ lối quan trọng để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta lập nên những thành tựu mới trong sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, phát huy giá trị văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam thời đại mới nhằm hướng tới mục tiêu cao cả: “Phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”[4]…
Có thể nói, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân cách con người là di sản nhân văn, hết sức phong phú, sâu sắc, có giá trị lý luận và thực tiễn lớn lao. Những nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân cách con người đã và đang được Đảng ta vận dụng và phát triển con người và phát huy nhân tố con người với quan điểm: con người là trung tâm, chủ thể, nguồn lực quan trọng nhất và mục tiêu của sự phát triển./.
Online: 31
Ngày: 268Tháng: 22490
Tổng: 1264014