LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT
TỈNH LÂM ĐỒNG
Số 2A Trần Hưng Đạo - Phường 3 - Thành phố Đà Lạt - Điện thoai: 0263.3533247 - Email: lienhiephoilamdong@gmail.com

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH VÀ PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TRONG CÁC CƠ QUAN ĐƠN VỊ Ở LÂM ĐỒNG HIỆN NAY

Danh mục: Tư vấn phản biện Ngày đăng: 18 tháng 7 năm 2022

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH VÀ PHÁT HUY

VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TRONG CÁC CƠ QUAN ĐƠN VỊ Ở LÂM ĐỒNG HIỆN NAY

 

                 Lâm Hoàng Long

               Giám đốc Trung tâm tư vấn Tâm lý – Xã hội tỉnh Lâm Đồng

 

1. Nhập đề

Khoa học công nghệ phát triển với tốc độ cao, đó là sự phát triển thần tốc trong một thời gian ngắn với những bước nhảy của sự sáng tạo công nghệ. Lịch sử phát triển của xã hội loài người thực chất là lịch sử phát triển của khoa học công nghệ, khoa học công nghệ phát triển nghĩa là trình độ sản xuất phát triển và kéo theo nó là sự phát triển cách sống của con người. Trình độ sản xuất nào thì nó quy định cách sống và cách làm của con người như vậy theo sự phát triển của trình độ sản xuất. Kể từ buổi bình minh nhân loại cho tới nay, con người đã từng bước thay đổi theo sự phát triển của trình độ sản xuất, của công cụ lao động. Khoa học phát triển thay đổi cách thức lao động, chuyển từ lao động cơ bắp sang lao động trí óc để từ một nền kinh tế tự cấp tự túc lo ăn từng bữa một cách hoang dã đến một nền kinh tế tri thức như ngày nay. Mỗi một trình độ sản xuất, một bước phát triển về khoa học kỹ thuật thì lực lượng lao động lại một lần được nâng cấp lên một tầm mới phù hợp với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, đó là sự thay đổi cách nghĩ, cách làm. Nói cách khác, thay đổi cách nghĩ cách làm thực chất là thay đổi tư duy, sự thay đổi này đã hình thành sự nghiệp đổi mới trong đó trước hết là đổi mới tư duy. Đổi mới tư duy là nâng trình độ tư duy lên một tầm cao mới, tiếp nhận công cụ lao động ở trình độ cao hơn để tăng năng suất lao động, mở con đường mới cho sự phát triển khoa học kỹ thuật ở Việt Nam. Vấn đề đẩy mạnh và phát huy đội ngũ trí thức do đó là việc làm vô cùng quan trong cho bất kỳ giai đoạn nào của sự phát triển nhất là trong giai đoạn đất nước ta đang thực hiện nhiệm vụ chuyển giao công nghệ như hiện nay. 

2. Cơ sở lý luận

Việt Nam có đặc thù riêng trong tiến trình phát triển, vốn dĩ là một nước thuần nông hàng ngàn năm với hệ tư tưởng phong kiến. Mãi đến năm 1955 mới nhổ bật được gốc rễ cuối cùng của nhà nước phong kiến để thay vào đó một nhà nước kiểu mới. Tuy nhiên, đó là sự thay đổi một hình thức nhà nước, hệ tư tưởng thống trị trong con người Việt Nam ta hàng ngàn năm qua lúc này mới bắt đầu một cuộc trường chinh của sự thay đổi và người cầm lái vĩ đại cho sự thay đổi đó là Lãnh tụ Hồ Chí Minh của chúng ta. Sự thay đổi đó trở thành một cuộc cách mạng thực sự không kém gì chộc cách mạng diệt ngoại xâm đó là diệt giặc đói và diệt giạc dốt. “Dốt” ở đây không phải là không biết gì mà “dốt” ở đây là lạc hậu, là kém phát triển. “Dốt” ở đây là biểu thị của giai đoạn đầu của sự phát triển, là buổi đầu bình minh nhân loại, điều này không nước nào không trải qua. Diệt “giặc dốt” cũng chình là sự khởi đầu của của một chặng được mới, chặng đường của khoa học kỹ thuật, Hồ Chí Minh đã từng nói: “Chúng ta đều biết rằng trình độ khoa học, kỹ thuật của ta hiện nay còn thấp kém. Lề lối sản xuất chưa cải tiến được nhiều. Cách thức làm việc còn nặng nhọc. Năng suất lao động còn thấp kém. Phong tục tập quán lạc hậu còn nhiều”. Và Hồ Chí Minh cũng khẳng định: “Ra sức đào tạo cán bộ khoa học và xây dựng các cơ sở nghiên cứu khoa học cần thiết, kết hợp với việc phổ biến rộng rãi những hiểu biết khoa học và kỹ thuật trong đông đảo quần chúng, thúc đẩy phong trào thi đua cải tiến kỹ thuật, sáng chế phát minh. Mở rộng sự hợp tác với các nước anh em trong việc nghiên cứu khoa học, kỹ thuật". Có thấy được sự thay đổi đặc thù đó chúng ta mới thấy được sự phát triển thần tốc ở nước ta trong sự nỗ lực, lòng quả cảm và trí thông minh của con người Việt Nam đã sẵn có kể cả khi khoa học kỹ thuật ở nước ta chưa phát triển. Đó là truyền thống, là bản sắc của con người Việt Nam khi được định hướng và có sự dẫn dắt thông minh.

Trước hết cần phải thấy rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân của Học thuyết Mác – Lê-nin ở Việt Nam, khoa học mà Người hướng tới là khoa học Mác – Lê-nin. Trong tiến trình phát triển của loài người phần lớn trải qua sự phát triển tuần tự theo các giai đoạn phát triển từ thấp đến cao, từ lạc hậu đến khoa học kỹ thuật và ngày nay là khoa học công nghệ. Việt Nam chúng ta không theo con đường tuần tự đó mà có một bước nhảy vọt không thông qua giai đoạn Tư bản Chủ nghĩa, bước nhảy vọt này đã được Chủ nghĩa Mác – Lê-nin chuẩn bị một cách kỹ lưỡng, khoa học, đúng quy luật và nhờ vậy bước nhảy của chúng ta là bước nhảy khách quan mà động lực chính là sức mạnh nội sinh, trước hết là đội ngũ trí thức. Theo Hồ Chí Minh, trí thức là những người tri thức, có hiểu biết và có tư duy khoa học: “Trí thức là gì? Trí thức là hiểu biết. Trong thế giới chỉ có hai thứ hiểu biết: một là hiểu biết sự tranh đấu sinh sản. Khoa học tự nhiên do đó mà ra. Hai là hiểu biết tranh đấu dân tộc và tranh đấu xã hội. Khoa học xã hội do đó mà ra. Ngoài hai cái đó, không có trí thức nào khác. Một người học xong đại học, có thể gọi là có trí thức. Song y không biết cày ruộng, không biết làm công, không biết đánh giặc, không biết làm nhiều việc khác. Nói tóm lại: công việc thực tế, y không biết gì cả. Thế là y chỉ có trí thức một nửa. Trí thức của y là trí thức học sách, chưa phải trí thức hoàn toàn. Y muốn thành một người trí thức hoàn toàn, thì phải đem cái trí thức đó áp dụng vào thực tế. Vì vậy, những người trí thức đó cần phải biết rõ cái khuyết điểm của mình. Phải khiêm tốn. Chớ kiêu ngạo. Phải ra sức làm các việc thực tế. Lý luận phải đem ra thực hành. Thực hành phải nhằm theo lý luận. Lý luận cũng như cái tên (hoặc viên đạn). Thực hành cũng như cái đích để bắn. Có tên mà không bắn, hoặc bắn lung tung, cũng như không có tên. Lý luận cốt để áp dụng vào thực tế. Chỉ học thuộc lòng, để đem loè thiên hạ thì lý luận ấy cũng vô ích. Vì vậy, chúng ta phải gắng học, đồng thời học thì phải hành”.

Lịch sử phát triển đó đã chỉ ra rằng bản chất của sự phát triển xuất phát từ sự phát triển của khoa học, công nghệ gắn liền với sự phát triển về cách sống, cách làm của con người, trình độ sản xuất nào thì con người đó. Chính vì vậy Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã dạy: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”. Sự thay đổi từ giai đoạn phát triển này sang giai đoạn phát triển khác của lịch sử phát triển của loài người thực chất là sự phát triển của công cụ lao động gắn liền với sự phát triển về cách sống, cách làm việc của con người. Các Mác đã nói: “Lịch sử chẳng qua là sự nối tiếp của những thế hệ riêng rẽ trong đó mỗi thế hệ đều khai thác những vật liệu, những tư bản, những lực lượng sản xuất do tất cả các thế hệ trước để lại; do đó, mỗi thế hệ một mặt tiếp tục phương thức hoạt động được truyền lại, nhưng trong những hoàn cảnh đã hoàn toàn thay đổi, và mặt khác, lại biến đổi những hoàn cảnh cũ bằng một hoạt động hoàn toàn thay đổi”. Chính từ điều đó, C.Mác cũng đã khẳng định: “…mỗi thế hệ nhận được của những tiền bối của mình, một khối lớn những lực lượng sản xuất, những tư bản và những điều kiện, tức là những thứ, một mặt bị thế hệ mới làm biến đổi đi, song mặt khác lại quy định cho thế hệ mới những điều kiện sinh hoạt của chính thế hệ mới và làm cho thế hệ mới có một sự phát triển nhất định; như vậy là con người tạo ra hoàn cảnh đến mức nào thì hoàn cảnh cũng tạo ra con người đến mức ấy” và “...những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì, mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào...”. Như vậy, sự thay đổi là tất yếu, là khách quan, hoàn toàn không phải là một sự áp đặt của một thế lực nào. Tác động để tạo nên sự thay đổi đó phụ thuộc vào hoạt động đặc thù của loài người đó là giáo dục. Trong quá trình phát triển của mỗi người hình thành hai bước giáo dục đó là được giáo dục và tự giáo dục. Mỗi giai đoạn có những đặc thù giáo dục khác nhau, nhưng giai đoạn sau bao giờ cũng cao hơn giai đoạn trước phù hợp với trình độ sản xuất của giai đoạn đó. Vì vậy khi một giai đoạn mới hình thành vấn đề quan trọng nhất là nắm bắt được mục tiêu giáo dục cho giai đoạn đó để đào tạo nên những con người đáp ứng được yêu cầu của thời đại để sử dụng được công cụ lao động mới với hiệu quả cao nhất như C.Mác đã nói “…con người tạo ra hoàn cảnh đến mức nào thì hoàn cảnh cũng tạo ra con người đến mức ấy”.  

3. Cơ sở thực tiễn

Bất kỳ một giai đoạn phát triển nào cũng đều có những thách thức, vượt qua thách thức sẽ có những thành công, điều này đã trở thành phương châm  hoạt động: trong nguy có cơ. Thách thức là tất yếu, vấn đề là có nhìn thấy thách thức để vượt qua hay không? Thực tế không bao giờ có một con đường hoàn toàn bằng phẳng cho bất kỳ ai, đặc biệt đới với đội ngũ trí thức. Bản lĩnh của trí thức là vượt qua thách thức, đó là điều đặt ra của thực tiễn, của cuộc sống với đội ngũ trí thức. Chính điều đó Hồ Chí Minh mới mong mỏi đội ngũ trí thức “…cố gắng rèn luyện mình thành những chiến sĩ xuất sắc trong công việc phổ biến khoa học, kỹ thuật”. Trước hết chúng ta cần nhìn thấy những thách thức đang đặt ra trong giai đoạn hiện nay.

3.1. Những thách thức thời đại

+ Thứ nhất là sự thay đổi quan hệ giữa người với các mối quan hệ lớn mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đã chỉ ra và quan niệm mới về lao động

Tính quy luật của xã hội loài người bắt đầu từ tư duy sáng tạo và lao động, nó được hình thành theo sự phát triển của xã hội loài người qua từng giai đoạn, nhưng về cơ bản nó hình thành nên hai giai đoạn chính, giai đoạn thứ nhất là giai đoạn thống trị mà quan hệ giữa người với người là quan hệ một chiều với những áp đặt tiêu cực, giai đoạn thứ hai là giai đoạn đại diện mà quan hệ giữa người với người là quan hệ hai chiều. Thống trị hay đại diện là biểu hiện của vĩ mô, là sự thể hiện chung của một xã hội, quan hệ giữa người này với người khác là phạm vi vi mô, là sự biểu hiện cụ thể trong đời sống hàng ngày của con người. Quan hệ một chiều là quan hệ của xã hội hình thành giai cấp: bóc lột và bị bóc lột, trong mối quan hệ này người lao động, tức là giai cấp bị bóc lột không được coi trọng. Trong khi đó, tư tưởng phong kiến tồn tại hàng ngàn năm ở nước ta cho đến nay vẫn còn trong đời sống thực, mặt khác những vấn đề mới như dân chủ, tự do, quyền con người chưa được hiểu đúng đã tạo nên cách sống tùy tiện, độc đoán, gia trưởng, dễ xúc phạm, coi thường con người, bất chấp pháp luật. Những biểu hiện mặt trái của con người đã được Hồ Chí Minh chỉ ra như “bệnh tham lam, bệnh lười biếng, bệnh kiêu ngạo, bệnh hiếu danh, thiếu kỷ luật, óc hẹp hòi, óc địa phương, óc lãnh tụ” vẫn còn nhiều trong thời đại ngày nay.

Quan hệ giữa người với người còn bị chi phối bởi sức hấp dẫn của giá trị vật chất mà trong giai đoạn hiện đại hình thành nên tư tưởng “bái vật giáo” trong đó lòng tham đồng tiền đã làm biến đổi con người: “Lúc đó tiền cũng xuất hiện là lực lượng có tác dụng xuyên tạc ấy chống lại cá nhân cũng như chống lại những mối liên hệ xã hội.v.v… Tiền biến trung thành phản, yêu thành ghét, ghét thành yêu, đức hạnh thành thói xấu, thói xấu thành đức hạnh, tớ thành chủ, chủ thành tớ, ngu thành khôn, khôn thành ngu. Vì tiền, với tính cách là khái niệm đang tồn tại và đang biểu hiện giá trị, làm lẫn lộn và tráo đổi mọi sự vật cho nên nó là sự lẫn lộn phổ biến và sự thay thế phổ biến mọi sự vật, nghĩa là thế giới lộn ngược, là sự lẫn lộn và sự thay thế tất cả những phẩm chất tự nhiên và có tính người” (Các Mác-Phri-đrich Ănghen-tuyển tập.T1.NXB Sự thật.H1980.Tr 135). Với thực tế đó, việc tìm ra giá trị đúng đắn của đồng tiền trong quan hệ giữa người với người hết sức quan trọng trong đời sống thực. Quan hệ giữa người với người là sản phẩm của quá trình sản xuất của con người. Quá trình sản xuất đó được con người gọi tên là lao động, hoạt động chính trong quy luật sinh tồn của con người. Trong xã hội có giai cấp, lao động bị coi là tha hóa khi người lao động bị bóc lột, sản phẩm do anh ta làm ra không phải của anh ta. Giải phóng con người là xóa bỏ chế độ bóc lột để hoàn trả sản phẩm lao động về người lao động. Lao động chân chính luôn được biểu hiện bằng sản phẩm chân chính, lao động là phương thức tiến hóa của riêng con người, nó không chỉ tạo ra vật phẩm tiêu dùng mà còn tạo ra phẩm chất con người, đó là tính người. Thách thức ở đây là tất cả những điều nêu trên đang tạo nên lực cản không nhỏ trong tiến trình phát triển của chúng ta. Đó là những thách thức mà xã hội đòi hỏi đội ngũ trí thức phải vượt qua bằng tư duy khoa học của mình.

+ Thứ hai là phương thức tiếp cận với chuyển đổi số

Một thách thức lớn nữa được đặt ra trong thời đại ngày nay là chuyển đổi số. Chuyển đổi số là phương thức hoạt động của thời đại công nghệ 4.0. Chuyển đổi số đang đem đến cho con người hiện thực hóa nền kinh tế tri thức, ở Việt Nam, chuyển đổi số thường được hiểu theo nghĩa là quá trình thay đổi từ mô hình doanh nghiệp truyền thống sang doanh nghiệp số bằng cách áp dụng công nghệ mới như dữ liệu lớn (Big Data), Internet vạn vật (IoT), điện toán đám mây (Cloud), trí tuệ nhân tạo (AI)… nhằm thay đổi phương thức điều hành, lãnh đạo, quy trình làm việc, văn hóa công ty. Đây là thách thức không nhỏ khi mà chúng ta vẫn chịu sự chi phối của tư duy cũ, chịu ảnh hưởng của thói quen sản xuất nông nghiệp manh mún, nhỏ lẻ, lạc hậu, hình thức, cảm tính trong trạng thái tĩnh. Chuyển đổi số ở việt Nam cũng như nhiều nước có trình độ phát triển như ở nước ta hoặc thấp hơn trong tâm thế thừa hưởng thành quả từ các nước tiên tiến, điều này làm cho khoảng cách từ thực tế đến chuẩn mực là khá lớn đòi hỏi sự đầu tư không nhỏ nhất là việc đào tạo nguồn nhân lực cho thế hệ trẻ hiện nay. Đây cũng chính là thách thức cho giáo dục Việt Nam trong giai đoạn 4.0 khi mà trình độ công nghệ của đại đa số còn thấp, lớp trẻ mê công nghệ phục vụ con người chưa nhiều, độ tuổi thanh thiếu niên còn cảm tính, tùy tiện khi sử dụng mạng xã hội, thiếu phương tiện học tập mà rõ nhất trong đại dịch vừa qua khi học trực tuyến, đó là chưa nói đến sự phát triển của doanh nghiệp.    

+ Thứ ba là việc khẳng định tính khách quan và khoa học của Học thuyết Mác – Lê-nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh trong tất cả mọi mặt của đời sống xã hội

Một vấn đề hiện nay là Học thuyết Mác – Lê-nin, khoa học mác-xít, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Chủ nghĩa xã hội, kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa chưa thật sự được khẳng định ở nước ta một cách đồng đều, kể cả mặt lý luận. Nếu như khoa học Mác – Lê-nin là khoa học của sự phát triển khách quan với tư duy duy vật biện chứng thì Tư tưởng Hồ Chí Minh là hiện thân của khoa học Mác – Lê-nin ở Việt Nam. Nguyên lý vận động và phát triển đã chỉ ra rằng vấn đề là chỉ ra các quy luật. Quy luật luôn luôn vận động trong sự cân bằng và trong vận động xã hội cũng vậy, cân bằng giữa khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, cân bằng giữa đồi sống vật chất và đời sống tinh thần… Trong quá trình tạo sự cân bằng đó có lúc, có giai đoạn không cân bằng, với khả năng của mình con người phải tạo ra sự cân bằng đó. Thực tế hiện nay, việc khẳng định học thuyết Mác, khoa học mác – xít, Chủ nghĩa xã hội… còn nhiều vấn đề dẫn đến tình trạng tư tưởng, hoạt động xã hội còn mang tính hình thức nhất là lĩnh vực khoa học xã hội, tạo sơ hở để nhiều kẻ lợi dụng, xuyên tạc.

+ Thứ tư là việc rút ngắn khoảng cách giữa vi mô và vĩ mô, giữa lý luận và thực tiễn

Khoảng cách giữa vi mô và vĩ mô được hiểu trước hết là khoảng cách giữa chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước với thực tế cơ sở. Hoạt động cơ sở chưa đáp ứng kịp đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, sự thiếu hụt thông tin làm hạn chế hiểu biết về chính trị, con người, xã hội và pháp luật. Khoảng cách giữa vi mô và vĩ mô cũng tạo nên khoảng cách giữa lý luận và thực tiễn, đây là vấn đề mà Hồ Chí Minh rất quan tâm và quán triệt nhiều: “Lý luận cốt để áp dụng vào công việc thực tế. Lý luận mà không áp dụng vào thực tế là lý luận suông. Dù xem được hàng ngàn hàng vạn quyển lý luận, nếu không biết đem ra thực hành, thì khác nào một cái hòm đựng sách. Xem nhiều sách để mà loè, để làm ra ta đây, thế không phải là biết lý luận”. Cho đến nay, lời dạy của Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị, nhất là mối quan hệ đó trong khoa học xã hội. Nhiều đề tài nghiên cứu khoa học xã hội lâu nay sau khi hoàn thành, được nghiệm thu lại trở thành vật trưng bày trong tủ sách. Trong các hội thảo khoa học về khoa học xã hội có nhiều bài viết được tải từ mạng về và lắp ghép thành bài viết chứ chưa thể hiện là một vấn đề nghiên cứu mà thực tiễn đang cần. 

3.2. Những thành tựu

Nhìn lại chặng đường phát triển của cách mạng Việt Nam, chúng ta không chỉ tự hào về những thành tựu có được dưới sự lãnh đạo tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh và sự sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam mà còn hãnh diện về sức mạnh Việt Nam và sự phát triển vượt bậc của đất nước Việt Nam. Chặng đường vinh quang ấy đã được bạn bè thế giới công nhận ngưỡng mộ kể cả những đất nước đã từng là kẻ thù bên kia chiến tuyến. Nói như vậy để thấy rằng những thành tựu đó không phải từ trên trời rơi xuống mà là công lao của những người con đất Việt ưu tú đã đổ biết bao mồ hôi, xương máu và cả trí tuệ của một dân tộc yêu hòa bình, yêu lao động mới có được. Dân tộc Việt Nam đã vượt lên những thách thức lớn lao, thậm chí có cả những thách thức không tưởng để bảo vệ dân tộc này, đất nước này, trong đó phải kể đến những nhà trí thức Việt Nam. Thành tựu đã trở thành thực tiễn mới, là nguồn động lực mạnh mẽ cho đội ngũ trí thức vươn lên.

4. Một số giải pháp hiện nay

Giải pháp thứ nhất: Tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới tư duy

Tư duy của con người có nhiều trình độ cao thấp khác nhau phụ thuộc vào quá trình nhận thức. Tư duy có quy luật của tư duy, nhận thức có quy luật của nhận thức, hai quy luật này chuyển hóa cho nhau tạo nên hiểu biết của con người. Việc nắm được quy luật tư duy, quy luật nhận thức mới khẳng định được trình độ tư duy cao hay thấp. Mỗi người có một cơ chế sinh học hoạt động với những mức độ cao, thấp, nhanh, chậm và điều kiện tiếp cận giáo dục khác nhau thì mức độ tư duy, mức độ nhận thức khác nhau. Chính sự khác nhau đó dẫn đến hành động khác nhau, năng lực lao động vì thế cũng khác nhau. Mở đường cho sự phát triển của xã hội trước hết xuất phát từ tư duy sáng tạo của con người, tư duy sáng tạo được cụ thể bằng công cụ lao động. Sự thay đổi công cụ lao động là quá trình sáng tạo ngày càng cao trong việc sản xuất ra của cải vật chất từng bước đáp ứng như cầu ngày càng cao của con người. Sự thay đổi về công cụ lao động là sự thay đổi về trình độ sản xuất. Như trên đã nói, trình độ sản xuất nào thì quy định cách làm, cách sống đó. Một khi trình độ tư duy ở mức thấp, nghĩa là trình độ nhận thức cũng mức thấp thì năng lực lao động của con người đó cũng là mức thấp, do đó, năng suất lao động cũng thấp. Việc chỉ ra các mức độ về tư duy để hiểu rõ rằng tư duy không phải là cái gì đó cố định, có mức độ giống nhau mà nó luôn phải được thay đổi theo chiều phát triển, nâng cao. Cho tới ngày nay, khi mà trình độ công nghệ đang ở mức cao (4.0) thì trình độ tư duy tương ứng với nó là tư duy duy vật biện chứng. Việc nâng cao trình độ tư duy phụ thuộc vào việc học của mỗi người, quá trình được học giúp hoạt động tư duy diễn ra linh hoạt, nhanh nhạy hơn và đây cũng là cơ sở để hỉnh thành nên hiểu biết. Hiểu biết của con người nếu theo quy luật thì học vấn càng cao kéo theo hiểu biết cao. Trên thức tế, nhiều khi ngược lại, học thức cao nhưng hiểu biết thấp, học thức thấp nhưng hiểu biết cao. Điều đương nhiên hiểu biết cao hay thấp có chuẩn mực của nó và được thể hiện trong trách nhiệm, năng lực lao động, chất lượng lao động, chất lượng sản phẩm, ý thức về tổ chức, ý thức pháp luật, nề nếp, kỷ cương. Hiểu biết cao tất yếu trách nhiệm, năng lực và ý thức càng cao và ngược lại.

Sự phát triển của tư duy để nâng cao trình độ tư duy là một tất yếu khách quan bởi vì đó là quy luật, chính từ quy luật đó mà Đảng ta đã khởi xướng sự nghiệp đổi mới, sự khởi xướng hoàn toàn khách quan và đúng quy luật. Đổi mới tư duy là để đổi mới cách nghĩ, cách làm. Để có cách nghĩ mới, con người phải được cung cấp thông tin và tri thức. Thông tin và tri thức phong phú là nguồn lực của con người hiện đại, thông tin và tri thức đó được tích lũy để trở thành động lực cho hành động phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội đó mới là hiểu biết. Đổi mới tư duy là nâng cao tư duy khoa học, nâng cao hiểu biết để làm chủ mình, chủ thể xã hội. Sự nghiệp đổi mới tư duy đã trải qua 36 năm đổi mới, yêu cầu xã hội hiện nay đang thúc bách chúng ta phải tiếp tục đổi mới để đáp ứng yêu cầu của thời đại. Những thành quả chúng ta đã có là rất to lớn nhưng đó chỉ là bước đầu cho sự tồn vong của một dân tộc. Càng phát triển càng đòi hỏi thông tin và tri thức được nâng lên trong mỗi con người, cũng có nghĩa sự nghiệp đổi mới phải thực sự thấm sâu vào mỗi con người, đặc biệt là đội ngũ trí thức về khái niệm lẫn bản chất của nó, có như vậy chúng ta mới không phải ngỡ ngàng trước ngã ba đường để rồi lỡ bước sa sẩy vào con đường thuần vật chất.

Giải pháp thứ hai: Nghiên cứu và phát động phong trào tự học, tự nghiên cứu

Đổi mới tư duy là quy luật của sự phát triển, đổi mới tư duy là nâng cao cấp độ tư duy và trình độ nhận thức. Tư duy được nâng cao, nhận thức được nâng cao chỉ có khi bắt đầu bằng quá trình học tập. Quá trình học tập của mỗi người qua hai giai đoạn: giai đoạn thứ nhất là giai đoạn chuẩn bị, giai đoạn được học, tức là giai đoạn nhà trường; giai đoạn thứ hai là giai đoạn chuyển từ được học sang tự học. Đây là giai đoạn quan trọng nhất trong quá trình học tập. Tự học, tự nghiên cứu là khả năng đích thực của con người, những kiến thức tích lũy trong giai đoạn thứ nhất là kiến thức trong phạm vi hẹp. Người lao động ngày nay và năng lực lao động ngày nay của người lao động được định lượng bằng kỹ năng: kỹ năng cứng và kỹ năng mềm. Kỹ năng cứng là kỹ năng chuyên môn, kỹ năng mềm là kỹ năng xã hội, trong đó kỹ năng cứng chỉ chiếm tỷ lệ 25%. Tự học là quá trình khẳng định năng lực chuyên môn sâu trong lĩnh vực hoạt động của mình đồng thời nhìn thấy vai trò của chuyên môn trong đời sống con người nói chung. Mặt khác, kỹ năng mềm là những kỹ năng để hoàn thiện bản thân mỗi con người, nâng cao hiểu biết để nắm vững quy luật, phục vụ con người, đó là mục đích cao nhất của nhân cách. Tự học, tự nghiên cứu đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong quá trình phát triển của một con người mà trước kia Chủ tịch Hồ Chí Minh gọi đó là Hồng và Chuyên và ngày nay trở thành mục tiêu của giáo dục là xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời.

Chất lượng của tự học, tự nghiên cứu quyết định chất lượng lao động mà trước hết là đội ngũ trí thức. Để làm được điều này cần phải có cơ chế vừa khẳng định vai trò của tự học, tự nghiên cứu, vừa xây dựng chuẩn để đánh giá năng lực cá nhân từ đó nâng cao chất lượng lao động của mỗi người.

Giải pháp thứ ba: Mở rộng dịch vụ nghiên cứu khoa học trong các lĩnh vực hoạt động mà tập trung cao cho lĩnh vực khoa học xã hội

Để khẳng định vai trò to lớn của tự học, tự nghiên cứu cần phải có cơ chế, đó là những quy định pháp lý trong lãnh đạo, quản lý một cách cụ thể. Những quy định đó nhằm nâng cao tính khoa học trong lĩnh vực hoạt động chuyên môn riêng, đồng thời tạo điều kiện để các nhà khoa học được tham gia đối với những nhà khoa học có chuyên môn chuyên sâu và chuyên môn gần liên quan. Đây cũng là cách thức đào tạo tại chỗ của các cơ quan, đơn vị.

Lâu nay việc nghiên cứu khoa học đối với các đơn vị có chức năng nghiên cứu khoa học theo một quy trình là đấu thầu đề tài. Quy trình này không kích thích được nguồn chất xám từ các nhà khoa học, nhất là những người có tâm huyết trong nghiên cứu khoa học, tạo nên một thói quen nghiên cứu khoa học theo khuôn khổ mà chưa theo nhu cầu xã hội. Từ đó làm nguội dần niềm đam mê nghiên cứu khoa học và thiếu động lực cho việc tự học, tự nghiên cứu.

Một thực tế cần được nhìn nhận đó là nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực khoa học xã hội, khoa học xã hội hay khoa học tự nhiên là hai mặt của một lĩnh vực nào đó. Trong khoa học tự nhiên có khoa học xã hội, trong khoa học xã hội có khoa học tự nhiên. Tuy nhiên vấn đề đa dạng, phong phú, trừu tượng và đầy biến động của xã hội đã hình thành nên tính phức tạp của loại hình nghiên cứu này. Khó nhưng vẫn phải làm vì nếu không sẽ tạo nên sự mất cân đối trong quan hệ giữa kinh tế và xã hội, tạo khoảng cách trong hai mặt đối lập trong mọi lĩnh vực.

5. Kết luận  

Đến nay, theo số liệu nguồn, Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Lâm Đồng đã tập hợp được 42 tổ chức thành viên với gần 15.000 trí thức, chiếm 26,4% trí thức của tỉnh. Mặc dù số lượng đông nhưng chỉ chiếm một tỷ lệ khá khiêm tốn trong tổng số lực lượng trí thức tỉnh nhà. Việc thu hút lực lượng trí thức nhằm đẩy mạnh và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trong tỉnh là nhiệm vụ rất nặng nề đối với Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh. Trong quá trình thu hút lực lượng cần đầu tư để các nhà khoa học trẻ tham gia, củng cố đội ngũ trí thức tiềm năng, đích thực để đủ sức về năng lực khoa học tạo sự hấp dẫn cho các nhà khoa học nói chung và nhà khoa học trẻ nói riêng. Với những giải pháp trên hy vọng được nhìn nhận lại một cách có hệ thống trong việc đẩy mạnh và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức tỉnh Lâm Đồng. Đội ngũ trí thức tỉnh được tập hợp và được nâng cao sẽ là đội ngũ mạnh mẽ trong giai đoạn chuyển giao công nghệ ở tỉnh nhà nói riêng và góp phần phổ biến khoa học cả nước nói chung./.

 

Tài liệu tham khảo

[1] Các Mác – Phri-đrich Ăng-ghen. Tuyển tập. T1,5. NXB Sự thật.H 1980.

[2] Hồ Chí Minh. Tuyển tập. T2. NXB Sự thật.H1980.

[3] CD-ROM Hồ Chí Minh. NXB Chính trị quốc gia.

[4] Nguồn Internet.

Tin liên quan