LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT
TỈNH LÂM ĐỒNG
Số 05 Trần Nhân Tông, Phường Lâm Viên - Đà Lạt - Điện thoai: 0263.3533247 - 3521668 - Email: lienhiephoilamdong@gmail.com

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ TẬP THỂ, HỢP TÁC XÃ TỈNH LÂM ĐỒNG GIAI ĐOẠN 2021 - 2025

Danh mục: Tư vấn phản biện Ngày đăng: 12 tháng 4 năm 2022

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ

TẬP THỂ, HỢP TÁC XÃ TỈNH LÂM ĐỒNG GIAI ĐOẠN 2021 - 2025

 

Liên minh HTX tỉnh Lâm Đồng

 

I. TÌNH HÌNH THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẬP THỂ, HỢP TÁC XÃ

1. Tình hình chung

1.1. Về tổ hợp tác

- Toàn tỉnh có 352 tổ hợp tác (THT) (Trong đó có 17 THT phi nông nghiệp và 335 THT nông nghiệp) có đăng ký chứng thực với chính quyền địa phương cấp xã, phường, thị trấn theo quy định (tăng 86 % so với cuối năm 2016). Số lượng THT thành lập mới 163 THT do cán bộ hội làm chủ (Hội Nông dân, Hội Liên hiệp phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, ...). Tổng số thành viên tham gia trong THT 7.217 thành viên (tăng 100% so với cuối năm 2016). Đa số các THT thành lập mang tính thời vụ, hoạt động quy mô nhỏ, vốn góp ít hoặc thành lập hỗ trợ nhau về kỹ thuật sản xuất, chưa có cơ quan quản lý nhà nước chịu trách nhiệm theo dõi về THT nên không đánh giá được doanh thu, vốn góp và số lượng hoạt động hiệu quả, nhà nước chưa ban hành chính sách hỗ trợ riêng cho THT phát triển bền vững.

1.2. Về Hợp tác xã

- Số lượng Hợp tác xã (HTX) 428 HTX trong đó 329 HTX nông nghiệp, 25 Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND), 36 HTX Công thương, 32 HTX Giao thông vận tải, 02 HTX Xây dựng và 04 HTX Dịch vụ khác (tăng 121% so với cuối năm 2016), số lượng HTX đang hoạt động 365 HTX trong đó hoạt động hiệu quả 181 HTX, ngưng hoạt động 63 HTX. Số thành viên HTX thời điểm 31/12/2020 là 63.787 thành viên (giảm 30% so với cuối năm 2016) trong đó đa số là cá nhân, hộ gia đình, có 01 thành viên là pháp nhân. Tổng số lao động tham gia trong khối kinh tế tập thể (KTTT) là 12.154 lao động.

- Số lượng cán bộ quản lý HTX khoảng 1.313 cán bộ, trong đó số lượng cán bộ quản lý đạt trình độ sơ, trung cấp 303 người; số lượng cán bộ quản lý đạt trình độ cao đẳng, đại học 279 người; còn lại là lao động chưa qua đào tạo.

- Về phân loại hoạt động: Trong 428 HTX có 153 HTX đạt loại khá, giỏi (41,9%); 117 HTX hoạt động loại trung bình (32,1%), 32 HTX yếu kém (8,8%) và 63 HTX ngưng hoạt động (17,3%), 63 HTX mới thành lập không phân loại.

1.3. Về Liên hiệp HTX

- Số lượng Liên hiệp HTX (LHHTX) tại thời điểm 31/12/2020 là 04 LHHTX đã đăng ký hoạt động theo luật HTX năm 2012 (tăng 100% so với cuối năm 2016), trong giai đoạn thành lập mới 02 LHHTX. Trong 04 LHHTX có 01 LHHTX đang hoạt động, 01 LHHTX ngưng hoạt động; 01 LHHTX mới củng cố, 01 LHHTX mới thành lập không phân loại. Số lượng LHHTX đã chuyển đổi 02 LHHTX. Số HTX thành viên tại thời điểm 31/12/2020 là 22 thành viên. LHHTX chưa phát huy vai trò trong việc hỗ trợ thành viên, tạo chuỗi liên kết giữa các HTX thành viên với nhau, giữa LHHTX với doanh nghiệp, tổ chức kinh tế khác.

2. Tình hình phát triển kinh tế tập thể theo ngành, lĩnh vực

2.1. HTX nông- lâm-ngư nghiệp

- Cuối năm 2020, toàn tỉnh có 329 HTX nông nghiệp (tăng 186% so với cuối năm 2016), trong đó có khoảng 282 HTX đang hoạt động và 47 ngưng hoạt động.

- Tổng thành viên khoảng hơn 8.000 thành viên. Tổng vốn điều lệ 437,8 tỷ đồng. Doanh thu trung bình một HTX khoảng 3 tỷ, các HTX hoạt động cung cấp dịch vụ phục vụ thành viên có doanh thu thấp, nhưng các HTX tổ chức kinh doanh có doanh thu cao trên 10 tỷ như HTX DVNNTH Tân Tiến, HTX Sun Food, HTX Tiến Huy,…

HTX nông nghiệp hoạt động chủ yếu các dịch vụ:

- Dịch vụ cung ứng vật tư đầu vào[1]: chủ yếu là phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thức ăn gia súc, giống cây trồng, vật nuôi,... Với loại hình dịch vụ cung ứng vật tư đầu vào giúp cho bà con thành viên yên tâm sản xuất về chất lượng, giá thành rẻ hơn so với thị trường. Tuy nhiên, số lượng thành viên tham gia sử dụng các loại hình dịch vụ này của HTX ngày càng hạn chế do sự cạnh tranh của các hộ kinh doanh cá thể, doanh nghiệp khác. Các HTX hầu hết chưa có phương tiện vận chuyển, kho xưởng, phải đi thuê mượn.

- Dịch vụ đầu ra: các HTX đã chú trọng đến việc bao tiêu sản phẩm cho các thành viên trong hoạt động dịch vụ nông nghiệp về rau, củ, quả[2]. Nhiều HTX kinh doanh rau, củ quả có doanh thu cao từ 10.000 triệu đồng trở lên, một số HTX chỉ tổ chức được dịch vụ tư vấn, tập hợp thành viên, giới thiệu thành viên ký kết hợp đồng tiêu thụ trực tiếp với các doanh nghiệp để tiêu thụ hàng hóa, số ít HTX trong lĩnh vực cà phê đã bước đầu tổ chức được dịch vụ tiêu thụ cho thành viên, điển hình là HTX cà phê Lâm Viên thu mua và tiêu thụ 300 tấn cà phê nhân với tổng doanh thu gần 10.000 triệu đồng.

- Hoạt động tín dụng nội bộ: có 11 HTX hoạt động lĩnh vực này, đều là HTX hoạt động từ thời bao cấp có nguồn vốn hóa giá vườn cây với tổng số tiền cho vay trên 15.060 triệu giải ngân cho 208 hộ thành viên vay đầu tư sản xuất, chi tiêu hàng ngày, cho con đi học hoặc khi ốm đau bệnh tật,…

- Hoạt động tổ chức sản xuất, cung ứng lúa giống và tiêu thụ lúa: chủ yếu tập trung ở 3 huyện phía Nam (Cát Tiên, Đạ Tẻh, Đạ Huoai), HTX đã tổ chức tốt dịch vụ cung ứng lúa giống, dịch vụ phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và tổ chức thu mua bao tiêu sản phẩm, một số HTX xây dựng được thương hiệu và có chứng nhận sản phẩm OCOP.

- Hoạt động dịch vụ chăn nuôi: các HTX chăn nuôi chủ yếu là nuôi các loại gia súc, gia cầm, cá nước ngọt. HTX phát huy vai trò cầu nối trong cung ứng nguồn thức ăn đảm bảo chất lượng nhưng chưa tập trung thu mua và tiêu thụ sản phẩm cho thành viên.

Trong những năm gần đây nhiều HTX đã áp dụng khoa học kỹ thuật, đầu tư máy móc chế biến các sản phẩm sau thu hoạch như tinh dầu bơ, tinh dầu sachi, tinh dầu mac ca, rau củ quả sấy khô, hồng treo gió, trà dược liệu các loại,…

 Ngoài những hoạt động dịch vụ cơ bản trên, nhiều HTX chưa tổ chức thu mua, tiêu thụ sản phẩm cho thành viên mà chỉ dừng ở dịch vụ giới thiệu, tìm kiếm các doanh nghiệp cho các hộ thành viên tự ký kết hợp đồng; một số HTX chỉ tổ chức hoạt động trong công tác tuyên truyền, tập huấn, tổ chức hội thảo đầu bờ cho thành viên trong công tác chăm sóc, áp dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất và chăn nuôi nên chưa phát sinh doanh thu.

Nhìn chung, đối với các HTX đang hoạt động hiệu quả trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng đã và đang hình thành chuỗi liên kết tiêu thụ sản phẩm cho thành viên, sản phẩm ngày càng chất lượng hơn đáp ứng được nhu cầu thị trường. Bên cạnh đó một số HTX quy mô nhỏ, hoạt động chưa mang lại hiệu quả do thiếu vốn, sản xuất nhỏ, chưa có đầu ra sản phẩm.

2.2. Quỹ tín dụng nhân dân

Toàn tỉnh có 25 Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) (tăng 9% so với cuối năm 2016), với tổng số thành viên hơn 52.444 thành viên. Tổng số lao động làm việc thường xuyên đến cuối năm 2020 hơn 384 người. Thu nhập trung bình hàng tháng của lao động làm việc thường xuyên tại các QTDND là 12 triệu đồng/người/tháng.

Đến cuối năm 2020, tổng số cán bộ quản lý tại Quỹ là 110 người[3]. Tổng vốn hoạt động gần 8.058 tỷ đồng[4]. Doanh số cho vay thành viên 11.114 tỷ đồng. Tổng dư nợ cho vay trên 6.160 tỷ đồng. Tổng nợ xấu 8,4 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu 0,14%.

Chênh lệch thu chi là 108 tỷ đồng. Nộp thuế và các khoản phí trên 12 tỷ đồng.

Nguồn vốn vay từ các QTDND đã tạo điều kiện cho hơn 37.000 lượt các thành viên vay vốn phát triển kinh tế hộ gia đình ngày càng hiệu quả để đầu tư sản xuất, kinh doanh dịch vụ, chăn nuôi, sửa chữa nhà, mua sắm trang thiết bị, … góp phần nâng cao đời sống cho các hộ thành viên. Một số QTDND tạo điều kiện cho thành viên vay tín chấp với lãi suất ưu đãi thông qua các tổ vay vốn, các tổ chức đoàn thể Chính trị xã hội tại địa phương giúp thành viên nghèo có điều kiện làm kinh tế, nâng cao thu nhập để thoát nghèo. Hoạt động của hệ thống QTDND đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời, giúp các thành viên đầu tư sản xuất đúng thời vụ, mang lại hiệu quả kinh tế cao, phát triển sản xuất kinh doanh, cải thiện đời sống của các thành viên. Hạn chế được nạn cho vay nặng lãi ở nông thôn.

Khó khăn: Tình hình dịch diễn biến phức tạp, thị trường bất động sản, giá nông sản xuống thấp,… ảnh hưởng đến công tác thu nợ, huy động vốn và cho vay của các QTDND. Hệ thống QTDND gặp khó khăn về công tác kết nạp thành viên khi thực hiện theo thông tư số 21/2019/TT-NHNN: chỉ Đại hội thành viên mới được kết nạp thành viên, vì vậy thành viên mới muốn vay vốn hay gửi tiền có khi phải chờ cả năm mới được xem xét; địa bàn và quy mô hoạt động bị hạn chế cũng gây trở ngại cho tăng trưởng, phát triển của các Quỹ tín dụng nhân dân.

2.3. Lĩnh vực Giao thông - Vận tải

Toàn tỉnh cuối năm 2020 có 32 HTX (tăng 45% so với cuối năm 2016), trong đó có 27 HTX đang hoạt động, 5 HTX ngưng hoạt động. Các HTX Vận tải có khoảng 2.250 thành viên và 3.625 lao động, quản lý vận hành khoảng 2.700 phương tiện vận tải thuộc sở hữu của thành viên. Tổng vốn hoạt động 53,9 tỷ đồng trong đó vốn điều lệ 42,6 tỷ đồng. Doanh thu bình quân đạt 1,98 tỷ đồng, lợi nhuận bình quân 1 HTX 97 triệu đồng, với lao động trực tiếp tại HTX khoảng 42 triệu đồng/năm và lao động là lái xe, lơ xe khoảng 84-90 triệu đồng/năm.

- Toàn tỉnh có 04 HTX taxi có 680 xe, HTX đầu tư bộ đàm, xây dựng lô gô, trung tâm điều hành,… hỗ trợ thành viên đón khách. Đa số các HTX hoạt động dịch vụ nên doanh thu hạn chế, bên cạnh đó tình hình dịch Covid -19 diễn biến phức tạp gây ảnh hưởng đến hoạt động các HTX. Một số HTX mới thành lập chưa có doanh thu, còn đang củng cố bộ máy theo luật HTX năm 2012 quy định.

- Dịch vụ vận tải phục vụ du lịch có 02 HTX (HTX Du thuyền Tuyền Lâm, HTX DVVT Lạc Dương) hoạt động cung ứng dịch vụ phục vụ du lịch đường thủy và vận chuyển khách du lịch lên đỉnh Lang Biang bằng đội xe chuyên dụng, tuy nhiên 02 HTX đang gặp khó khăn do ảnh hưởng dịch Covid-19 (doanh thu 02 HTX giảm 40-60%, hơn 100 lao động không có việc làm).

- Dịch vụ phục vụ thành viên hoạt động vận tải hành khách, hàng hóa. HTX thu phí dịch vụ phục vụ thành viên: ký kết hợp đồng vận chuyển, luồng tuyến, ra vào bến bãi, lắp đặt thiết bị giám sát hành trình, bảo hiểm, dịch vụ sửa chữa và cung ứng phụ tùng xe, hỗ trợ mua bán xe cho thành viên, …

 - Hoạt động kinh doanh vận tải hành khách, hàng hóa (08 HTX), có doanh thu cao vì tổ chức hoạch toán tập trung, một số mô hình vừa tổ chức dịch vụ thu phí vừa kinh doanh vận tải nên lợi nhuận cao hơn các mô hình khác.

- Ngoài các dịch vụ trên, HTX vận tải trên địa bàn còn hỗ trợ các thành viên xử lý sự cố phương tiện, bảo lãnh cho thành viên mua xe, tập huấn các nghiệp vụ vận tải cho thành viên, khám sức khỏe định kỳ 6 tháng đảm bảo công tác an toàn giao thông, ...

Khó khăn HTX: Do dịch bệnh Covid-19 ảnh hưởng lớn đến ngành vận tải, hoạt động ngành vận tải ngưng toàn bộ; bến xe lượng khách giảm 20-80%, chuyến xe cố định giảm 30-70% so với cùng kỳ; quy định chỉ hoạt động 50% số chuyến, 50% tải trọng xe và hạn chế đi lại của người dân nên một số đơn vị ngưng hoạt động; ngoài ra theo Nghị định 10/2020/NĐ-CP thì đối tượng vận tải hàng hóa gián tiếp không cần cấp phù hiệu nên nhiều phương tiện rời khỏi HTX.

2.4. Lĩnh vực Công thương

Đến 31/12/2020, trên địa bàn tỉnh có 36 HTX ngành Công thương (tăng 12,5 % so với cuối năm 2016) trong đó có 27 HTX tiểu thủ công nghiệp và 9 HTX thương mại (5 HTX chợ). Trong năm thành lập mới 01 HTX, ngưng hoạt động 10 HTX. Tổng số thành viên đến cuối năm 2020 có 940 thành viên. Về tổng vốn hoạt động 52 tỷ đồng, đến cuối năm doanh thu bình quân đạt 2,8 tỷ đồng. Thu nhập bình quân lao động trong HTX 48 triệu đồng/năm.

Lĩnh vực thương mại: Toàn tỉnh có 09 HTX trong đó có 05 HTX chợ hoạt động thu phí, quản lý chợ (đã được nhà nước giao cơ sở hạ tầng nhưng chưa được giao đất), 03 HTX thương mại ngưng hoạt động (TM Nam Ban, TM Thanh Niên, TMDV Cầu đất), 01 HTX thương mại Laba Phú Sơn hoạt động cung ứng phân bón, thu mua và tiêu thụ chuối Laba.

Lĩnh vực công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp: Hoạt động chủ yếu sản xuất gia công hàng len, may công nghiệp, đồ mỹ nghệ, đan lát lục bình, sản xuất, chế biến hạt điều, rau, củ, quả sấy khô,… duy trì hoạt động ổn định góp phần giải quyết việc làm cho thành viên và người lao động như HTX điều Lê Gia huyện Cát Tiên, HTX đan lát An Bình huyện Cát Tiên, HTX đan len Quý Anh TP Bảo Lộc (tạo công ăn việc làm và giải quyết hàng trăm lao động tại địa phương). Giá trị sản xuất hàng năm của một số HTX đều tăng tuy không nhiều nhưng đã giải quyết đáng kể trong việc thu hút nhiều lao động, sản phẩm có đầu ra và ngày càng góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho thành viên và người lao động.

Khó khăn: Thiếu vốn, quy mô nhỏ, hàng hóa không có đầu ra sản phẩm; các HTX quản lý, kinh doanh và khai thác chợ hoạt động khó khăn do thiếu sự đồng thuận của thành viên, các HTX chưa đầu tư cơ sở hạ tầng do chưa được giao đất; HTX sản xuất hàng hóa trang trí nhà cửa, gắn với du lịch đã tạm ngưng hoạt động; HTX khối công thương chưa tiếp cận nhiều các chính sách hỗ trợ của nhà nước.

2.5. Lĩnh vực Du lịch - Dịch vụ

Lĩnh vực Du lịch - Dịch vụ có 04 HTX (tăng so với năm 2016 do HTX khối giao thông vận tải đăng ký thay đổi ngành nghề hoạt động), tổng số có 34 thành viên. Hợp tác xã hoạt động cầm chừng, cán bộ quản lý điều hành không nhạy bén với thị trường mặc dù có tâm huyết với HTX.

2.6. Lĩnh vực xây dựng

Toàn tỉnh có 02  HTX xây dựng (tăng 100% so với cuối năm 2016) thành lập với mục đích thi công những công trình, thiết kế, xây dựng cơ sở hạ tầng nhỏ như cầu cống, đường liên thôn, liên xóm,… HTX DVTM xây dựng Đà Lạt mới thành lập năm 2020, bước đầu đi vào hoạt động tương đối hiệu quả.

3. HTX tham gia trong chương trình xây dựng nông thôn mới

Đến hết 12/2020 có 137/142 phường, xã, thị trấn có HTX[5], một số HTX góp phần đáp ứng tiêu chí số 13 về hình thức tổ chức sản xuất và có vai trò quan trọng trong thành tích xây dựng nông thôn mới của tỉnh.

HTX/QTDND hoạt động loại khá, giỏi trong toàn tỉnh đã tham gia ủng hộ phòng chống dịch Covid-19, ủng hộ miền trung lũ lụt và các hoạt động nhân đạo, từ thiện khác với tổng giá trị hơn 5 tỷ đồng và nhiều vật dụng như khẩu trang, nước sát khuẩn, lương thực và thực phẩm và những chuyến xe miễn phí của ngành vận tải.

Một số HTX ở vùng sâu, vùng xa đã vươn lên làm giàu, hỗ trợ bà con thành viên nâng cao thu nhập thông qua việc chuyển đổi giống cây trồng, áp dụng công nghệ cao vào sản xuất, tổ chức hoạt động khép kín từ trồng đến thu hoạch và xuất khẩu hàng hóa sang các thị trường Nhật, Hàn Quốc (HTX chuối LaBa Banana Đạ K’Nàng ở huyện Đam Rông). Hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp giải quyết công ăn việc làm cho chị em phụ nữ tại địa phương và địa bàn lân cận không phải đi lao động tại các thành phố lớn mà có thời gian cho gia đình với mức lương ổn định (HTX đan len Quý Anh ở TP Bảo Lộc). Một số tổ chức cung cấp giống cho thành viên trồng xen canh tăng giá trị trên một diện tích cây trồng ở các vùng cây công nghiệp giúp bà con nâng cao thu nhập, góp phần ổn định an ninh chính trị xã hội tại địa phương (HTX Hùng Thắng huyện Lâm Hà). Các HTX và Quỹ tín dụng nhân dân đã tham gia tích cực các phong trào tại địa phương như hỗ trợ học sinh nghèo hiếu học, xây nhà tình thương, hỗ trợ gia đình khó khăn, gia đình chính sách…

4. HTX tham gia chuỗi liên kết giá trị trong sản xuất

Trong những năm qua, việc liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị trong nông nghiệp có vai trò quan trọng trong sự phát triển của HTX, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân, hoàn thiện tiêu chí về hình thức tổ chức sản xuất. Đến cuối năm 2020, toàn tỉnh có 56 HTX hình thành chuỗi liên kết trong sản xuất[6].

Liên kết giữa HTX với thành viên thể hiện qua hợp đồng hợp tác: Khi thực hiện hợp đồng bao tiêu sản phẩm, đôi bên cùng có lợi, HTX chủ động được nguồn nguyên liệu còn thành viên không lo về đầu ra sản phẩm. Bên cạnh đó nếu HTX ký kết hợp đồng cung ứng vật tư đầu vào thì thành viên yên tâm về nguồn gốc và chất lượng sản phẩm[7].

Liên kết giữa HTX với THT: Những HTX có quy mô lớn về tiêu thụ sản phẩm đầu ra đều tổ chức liên kết với các THT trên địa bàn[8]. HTX cung cấp vật tư, cây giống, kỹ thuật cho các THT ngược lại THT phải tổ chức sản xuất theo đúng quy chuẩn của HTX đưa ra, chịu trách nhiệm về chất lượng và số lượng sản phẩm cung ứng cho HTX theo hợp đồng ký kết.

Liên kết giữa HTX với HTX: Các HTX tổ chức tốt trong việc liên kết để trao đổi hàng hóa, cùng chia sẻ hợp đồng giá trị lớn, yêu cầu đặt ra cho mối liên kết này là chất lượng hàng hóa phải tương đồng như chứng nhận sản phẩm an toàn, chứng nhận Viet GAP hay Global GAP[9].

Liên kết giữa HTX với doanh nghiệp theo một quy trình khép kín từ sản xuất, sơ chế, chế biến, xây dựng nhãn hiệu đến tiêu thụ hàng hóa nhằm tạo ra chuỗi giá trị bền vững là nhu cầu thiết thực. Khi thực hiện mối liên kết này đòi hỏi các bên đều phải có trách nhiệm: Doanh nghiệp chủ động liên kết với các HTX, ký các hợp đồng tiêu thụ sản phẩm, hỗ trợ đầu tư, hướng dẫn kỹ thuật sản xuất; HTX có trách nhiệm gắn kết thành viên của mình với doanh nghiệp trong việc thực hiện đúng các cam kết hợp đồng theo thỏa thuận đã ký. Thông qua xây dựng chuỗi giá trị, HTX sẽ cung cấp dịch vụ đầu vào cho thành viên HTX với giá thấp nhất và đảm bảo đầu ra cho sản phẩm với giá bán cao hoặc bằng thị trường. Việc xây dựng chuỗi giá trị gắn với xây dựng HTX cũng giúp cho thành viên HTX có tiếng nói mạnh mẽ hơn, có năng lực đàm phán trong giao dịch với đối tác[10].

Bên cạnh những kết quả đạt được thì việc xây dựng các chuỗi liên kết trong cung ứng và tiêu thụ nông sản tại tỉnh còn nhiều hạn chế, chưa được nhân rộng trên địa bàn, tỷ lệ HTX tham gia liên kết còn quá ít. Mối liên kết 03 bên: thành viên, HTX, doanh nghiệp trong sản xuất và tiêu thụ nông sản còn lỏng lẻo, sản phẩm tiêu thụ chưa được nhiều. Nguyên nhân chủ yếu do quy mô các HTX còn quá nhỏ, sản xuất manh mún nên trong quá trình triển khai ký kết hợp đồng cung ứng đầu vào, bao tiêu hàng hóa còn khó khăn.

5. Đánh giá chung

Nhận thức về kinh tế tập thể từ cấp ủy, cơ quan, đoàn thể và Nhân dân đã thay đổi rõ rệt; tổ chức bộ máy quản lý, phương thức lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, cơ quan địa phương từ tỉnh xuống địa phương có nhiều thay đổi; công tác tuyên truyền về Nghị quyết, Luật HTX và các văn bản liên quan đến người dân mang lại hiệu quả; kinh tế tập thể, hợp tác xã tiếp tục đổi mới, phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng, cơ bản khắc phục được tình trạng yếu kém kéo dài; có nhiều loại hình, mô hình KTTT, HTX hoạt động hiệu quả, góp phần phát triển kinh tế bền vững, xây dựng nông thôn mới, tạo việc làm, xoá đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội; từng bước khẳng định vị trí, vai trò nền tảng của khu vực KTTT, HTX trong nền kinh tế quốc dân.

Về phương thức hoạt động, sản xuất kinh doanh thay đổi mạnh phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế, trong đó liên kết tạo thành chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm là một phương thức tất yếu; HTX đã ứng dụng tin học, công nghệ cao, điều khiển hiện đại, đổi mới sáng tạo là một nét nổi bật trong hoạt động của KTTT trong những năm qua; các HTX ở vùng sâu, vùng xa chuyển đổi giống cây trồng, vật nuôi mang lại giá trị kinh tế cao giúp cho thành viên nâng cao thu nhập như HTX cá tầm (Đam Rông), HTX trái cây thanh long Nam Hà (Lâm Hà), HTX cây ăn trái Quãng Ngãi (Cát Tiên),... Bên cạnh đó, được sự quan tâm hỗ trợ của chính quyền địa phương, Liên minh HTX và Sở NNPTNT trong công tác tuyên truyền, hỗ trợ thu hút cán bộ trẻ có trình độ về tham gia trong HTX, thúc đẩy việc hình thành các mô hình HTX kiểu mới do các bạn trẻ làm chủ như HTX Phúc An Lâm Đồng (Bảo Lộc) HTX trùn quế Đơn Dương (Đơn Dương),... Ngoài ra, các Quỹ tín dụng nhân dân và HTX hoạt động hiệu quả hình thành các tổ chức công đoàn bảo vệ quyền lợi của thành viên, hình thành chi bộ cơ sở thuộc HTX.

6. Những tồn tại và hạn chế

- Dịch bệnh diễn biến phức tạp trong năm 2020 đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động của các HTX, nhất là HTX quy mô nhỏ, chưa có chuỗi trong sản xuất kinh doanh, các HTX dịch vụ, du lịch và vận tải.

- Một số cấp ủy đảng, chính quyền địa phương vẫn chưa nhận thức đầy đủ về quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước cũng như vai trò, vị trí của KTTT. Tâm lý hoài nghi mặc cảm chưa hiểu hết về hợp tác xã trong cán bộ, Nhân dân vẫn còn tồn tại.

- Các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã (như đất đai, vay vốn, thuế, đào tạo nghề, giải quyết việc làm...) chưa đủ để khuyến khích người dân tham gia vào HTX; các HTX phi nông nghiệp chưa tiếp cận với các chính sách như đất đai, cơ sở hạ tầng, vay vốn ưu đãi,... Vai trò tham mưu của Ban chỉ đạo phát triển kinh tế cấp địa phương chưa tốt.  

- Tốc độ, quy mô phát triển KTTT chưa trở thành một thành phần kinh tế đóng vai trò nền tảng động lực đóng góp cho GRDP của địa phương. Một bộ phận HTX chưa thoát khỏi yếu kém, khả năng cạnh tranh với các thành phần kinh tế khác chưa cao. Việc thực hiện chuyển động theo đúng 07 nguyên tắc Luật hợp tác xã của các HTX còn chậm; số lượng HTX sản xuất kinh doanh hiệu quả chưa cao, khả năng đóng góp cho ngân sách Nhà nước còn hạn chế.    

- Phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh ở một số địa phương, việc vận động thành lập mới HTX còn khó khăn, nhất là địa bàn vùng sâu, vùng sa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Phần lớn các HTX, tổ hợp tác có quy mô nhỏ, chưa có trụ sở làm việc, hoạt động sản xuất kinh doanh còn đơn điệu, manh mún, chưa năng động, chậm khắc phục khó khăn; chưa chủ động xây dựng kế hoạch, phương hướng hoạt động hoặc mở rộng hình thức kinh doanh theo hướng đa ngành nghề; chưa có nhiều hình thức liên doanh, liên kết khu vực HTX, HTX với các tổ chức doanh nghiệp. Hầu hết các HTX, tổ hợp tác chưa thực hiện tốt chế độ kế toán và thông tin báo cáo theo quy định.   

- Năng lực, trình độ cán bộ quản lý trong khu vực HTX còn nhiều hạn chế chưa đáp ứng được nhiệm vụ sản xuất kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay; chính sách đối với cán bộ HTX còn có nhiều bất cập nên chưa thu hút được nhiều cán bộ trẻ có năng lực, trình độ tham gia vào HTX. 

- Công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá hoạt động của HTX còn nhiều hạn chế và chưa thống nhất. Trong giai đoạn, số lượng HTX thành lập mới theo phong trào, không xuất phát từ nhu cầu và phù hợp với thực tế địa phương còn nhiều. 

7. Nguyên nhân khách quan và chủ quan

7.1. Khách quan

Lâm Đồng là tỉnh miền núi, địa bàn trải rộng, điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn, trình độ phát triển về mọi mặt không đồng đều, quy mô sản xuất của các hộ còn nhỏ, sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa ở nhiều địa phương còn hạn chế. Bên cạnh đó ảnh hưởng của mô hình HTX thời bao cấp vẫn còn nặng nề trong các tầng lớp nhân dân.  

7.2. Chủ quan

- Nhận thức về phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã của một số ngành, địa phương, người dân chưa đầy đủ, chưa hiểu đúng vai trò, bản chất của KTTT và HTX kiểu mới. Công tác tuyên truyền, vận động thành lập HTX còn hạn chế, chưa lan tỏa rộng khắp tới người dân. Một số sở, ngành, địa phương chưa có sự quan tâm đúng mức, công tác chỉ đạo còn dàn trải, thiếu trọng tâm, trọng điểm, thiếu quyết liệt, kiên trì. Công tác phối hợp giữa các cơ quan quản lý Nhà nước chưa chặt chẽ; cơ chế kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện công tác phát triển KTTT, HTX chưa được chú trọng.  

- Chính sách của Nhà nước về hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể đã ban hành nhưng thực tế, mức hỗ trợ còn thấp hoặc chưa thực hiện, cơ chế hỗ trợ còn phức tạp, một số quy định chưa thật phù hợp nên chưa thực sự tạo được động lực hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể.

- Thực lực của đa số hợp tác xã chưa đủ mạnh để liên doanh, liên kết phát huy được những lợi thế sẵn có do thiếu vốn, thiếu cơ sở hạ tầng, thiếu kinh nghiệm trong kinh doanh. Trình độ, năng lực quản lý, điều hành của cán bộ quản lý HTX vừa thiếu, vừa yếu; tỷ lệ cán bộ được đào tạo bài bản chưa cao.  

II. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KTTT TRONG THỜI GIAN TỚI

1. Cần tiếp tục tham mưu cho Tỉnh ủy, UBND tỉnh trong ban hành các văn bản hướng dẫn triển khai các chính sách hỗ trợ cho KTTT, HTX trong ảnh hưởng dịch Covid-19; tạo điều kiện tốt nhất cho các HTX, THT củng cố hoạt động, hạn chế đứt gãy chuỗi liên kết trong sản xuất.

2. Tăng cường sự chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương trong công tác xây dựng kế hoạch, chương trình hành động, giải pháp cụ thể thực hiện các giải pháp phát triển KTTT phù hợp với ngành, địa phương trong thời gian tới.

3. Tăng cường công tác tuyên truyền về phát triển KTTT, HTX: Các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch phù hợp để tiếp tục tuyên truyền, quán triệt các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về phát triển KTTT đến các tổ chức, cá nhân và các tầng lớp nhân dân, đảm bảo việc tuyên truyền đạt hiệu quả cao; qua đó nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội về phát triển KTTT, HTX. Tăng cường giới thiệu, phổ biến các mô hình HTX kiểu mới, tổ chức tham quan, học tập kinh nghiệm các mô hình HTX, THT hoạt động hiệu quả, giới thiệu kinh nghiệm của khu vực KTTT trong và ngoài tỉnh để các thành viên, người dân học tập kinh nghiệm, nhân rộng mô hình.

4. Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về KTTT: Củng cố, kiện toàn, nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của tổ chức bộ máy, cán bộ trực tiếp tham mưu về lĩnh vực KTTT từ tỉnh đến cơ sở để theo dõi, giám sát, tạo điều kiện cho KTTT phát triển. Nâng cao hơn nữa vai trò quản lý của Nhà nước đối với HTX; đặc biệt quan tâm đến việc bố trí cán bộ chuyên trách KTTT ở cấp huyện và cán bộ phụ trách KTTT ở cấp xã. Các ban, ngành và chính quyền địa phương cần chú trọng hơn nữa vào nhiệm vụ quản lý Nhà nước đối với HTX; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng và có chính sách cán bộ phù hợp, đảm bảo nâng cao chất lượng, hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình phát triển KTTT.

5. Tiếp tục đẩy mạnh phát triển KTTT về số lượng đồng thời củng cố về chất lượng; xây dựng mô hình HTX có quy mô lớn liên xã, liên huyện gắn với sản phẩm đặc trưng từng địa phương; chú trọng phát triển mới, đa dạng loại hình dịch vụ tại các xã chưa có hoặc ít HTX.

6. Tăng cường xây dựng mô hình HTX sản xuất kinh doanh theo chuỗi giá trị, phát triển các sản phẩm chủ lực, đặc sản của địa phương, gắn với chương trình mỗi xã một sản phẩm; xây dựng và nhân rộng các mô hình, hình thức liên kết trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản; quan tâm phát triển loại hình KTTT, HTX trong lĩnh vực dịch vụ - du lịch.

7. Tiếp tục xây dựng, tham mưu đề xuất hoàn thiện các cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể. Nghiên cứu, vận dụng tối đa các cơ chế chính sách của Chính phủ về ưu tiên, hỗ trợ phát triển KTTT, HTX trên cơ sở thực tiễn địa phương, ngành, lĩnh vực để kịp thời rà soát, sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ, hoặc thay thế những cơ chế, chính sách trước đây không còn phù hợp, không hiệu quả (nhất là cơ chế, chính sách về đất đai, tài chính, tín dụng, khoa học - công nghệ, thị trường, đào tạo, thu hút nguồn nhân lực, hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng…) tạo điều kiển để KTTT, HTX, THT phát triển mạnh hơn nữa, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

8. Triển khai thực hiện có hiệu quả các chương trình, kế hoạch và đề án phát triển KTTT, HTX trên địa bàn tỉnh; tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý và hoạt động của Quỹ hỗ trợ phát triển Hợp tác xã tỉnh; tăng quy mô nguồn vốn cho vay; tạo điều kiện để HTX tiếp cận được các nguồn vay ưu đãi, nhằm mở rộng, đa dạng hóa hoạt động.

III. KIẾN NGHỊ

- UBND tỉnh chỉ đạo sát sao các cấp, các ngành trong việc triển khai thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã giai đoạn 2021-2030 trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng.

- UBND huyện/thành phố có kế hoạch phát triển KTTT sát với tình hình địa phương, dành sự quan tâm và nguồn lực cao nhất có thể hỗ trợ khu vực KTTT, HTX, coi việc phát triển KTTT là giải pháp quan trọng để phát triển nông nghiệp nói riêng và kinh tế - xã hội của địa phương theo hướng ổn định, bền vững.

- Các sở ngành thường xuyên quân tâm phát triển KTTT, HTX gắn với các chương trình, kế hoạch phát triển ngành. Tăng cường cán bộ chuyên quản KTTT, HTX. Tạo điều kiện cho các HTX phát triển cân đối cùng các loại hình doanh nghiệp khác, ưu tiên cho các HTX đủ điều kiện được tham gia các dự án phát triển của ngành. Kịp thời tháo gỡ hoặc đề xuất lên cấp cao hơn giải quyết các vướng mắc cản trở sự phát triển của các HTX.

- Các đoàn thể, hiệp hội tích cực tuyên truyền, hỗ trợ phát triển các loại hình KTTT trong hội viên, xử dụng các mô hình HTX, THT như là một công cụ hiểu quả nâng cao chất lượng hỗ trợ hội viên của hội./.

 

[1] Doanh thu của HTX từ dịch vụ đầu vào khoảng 21.744 triệu đồng với 8.578 tấn vật tư các loại cho các hộ thành viên sử dụng. Điển hình như ở huyện Di Linh có: HTX DVNN Đông Di Linh cung ứng cho các thành viên hơn 1.105  tấn phân bón có doanh thu 7.635 triệu đồng, HTX DVNN Tây Di Linh cung ứng cho các thành viên 750 tấn phân bón đạt doanh thu 5.793 triệu đồng, HTX Nông lâm thủy sản sạch Thành Công cung ứng 605 tấn với doanh thu 6.100 triệu đồng..

[2] Tổng sản lượng trên 9.279 tấn với tổng doanh thu 129.092 triệu đồng. Điển hình như HTX DVNNTH Tân Tiến, HTX Sunfood Đà Lạt, HTX rau Anh Đào,...

[3] Cán bộ làm công tác quản lý của QTD có trình độ cao đẳng, đại học trở lên. Về đảng, đoàn thể: có 12/25 quỹ có chi bộ riêng, còn lại có đảng viên sinh hoạt ghép tại địa phương với tổng 111 đảng viên. 23/25 quỹ tín dụng có tổ chức công đoàn đã góp phần chăm lo đời sống nhân viên cơ quan yên tâm công tác.

[4] Trong đó tổng vốn tự có 460 tỷ đồng (vốn điều lệ 212,9 tỷ đồng); vốn huy động tiền gửi 7.141 tỷ đồng; vốn vay 143 tỷ đồng và vốn khác 314 tỷ đồng.

 

[5]  Trong đó còn 05 xã chưa có HTX: xã Lộc Nga TP Bảo Lộc; xã Gia Bắc huyện Di Linh; Xã Đạ Long, xã Đạ Tông huyện Đam Rông; xã Lộc Thành huyện Bảo Lâm.

[6] Có 46 chuỗi liên kết của HTX nông nghiệp và 10 chuỗi liên kết HTX phi nông nghiệp. Rau các loại có 26 HTX với 545 thành viên tham gia chuỗi, diện tích 848 ha. Cà phê có 06 HTX với 160 thành viên tham gia chuỗi, diện tích 229 ha. Chè có 01 HTX với 14 thành viên tham gia chuỗi, diện tích 20 ha. Dược liệu có 01 HTX với 07 thành viên tham gia chuỗi, diện tích 07 ha. Trái cây có 04 HTX với 173 thành viên tham gia chuỗi, diện tích 255 ha. Lúa có 04 HTX với 631 thành viên tham gia chuỗi, diện tích 855 ha. Dâu tằm có 01 HTX với 67 thành viên tham gia chuỗi, diện tích 40 ha. Chăn nuôi bò sữa có 01 HTX với 53 thành viên tham gia chuỗi, tổng đàn 495 con.

[7] HTX Tân Sơn TP Bảo Lộc; HTX Tư Nghĩa huyện Cát Tiên, HTX dịch vụ nông nghiệp tổng hợp Hiền Thi huyện Lạc Dương,…

[8] HTX dịch vụ nông nghiệp tổng hợp Anh Đào, HTX Sun Food TP Đà Lạt,…

[9] HTX Tiến Huy liên kết với HTX An Phú huyện Đức Trọng; HTX Sun Food liên kết với 26 các HTX trên địa bàn; HTX nông nghiệp Gia Phát liên kết với HTX cá tằm Rô Men,…

[10] HTX La ba Banana Đạ K’Nàng huyện Đam Rông; HTX dịch nông nghiệp tổng hợp Cát Tiên huyện Cát Tiên; HTX nông sản sạch Thành Công huyện Di Linh; HTX trái cây thanh long Nam Hà huyện Lâm Hà…

Tin liên quan