LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT
TỈNH LÂM ĐỒNG
Số 05 Trần Nhân Tông, Phường Lâm Viên - Đà Lạt - Điện thoai: 0263.3533247 - 3521668 - Email: lienhiephoilamdong@gmail.com

CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN, PHẢN BIỆN VÀ GIÁM ĐỊNH XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÂM ĐỒNG

Danh mục: Tư vấn phản biện Ngày đăng: 10 tháng 12 năm 2021

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

         Trước hết chúng ta cần khẳng định, cơ sở khoa học mà chúng ta đang hướng tới là khoa học mác-xít, khoa học mà nền tảng tư tưởng của nó là Học thuyết Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh. Học thuyết Mác và Tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là sản phẩm chủ quan của một thế lực xã hội nào đó áp đặt vào đời sống con người, trái lại đó là hệ tư tưởng đang vận động và phát triển một cách khách quan nhất, tiến bộ nhất sau khi đã tiếp thu, kế thừa những thành tựu khoa học của nhân loại từ khi khoa học bắt dầu xuất hiện cho tới ngày nay. Học thuyết Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh phải được hiểu một cách sâu sắc rằng: đó là hệ tư tưởng nhìn thấy được sự vận động biện chứng của tự nhiên, xã hội, của tư duy để chỉ ra quy luật hoạt động của chúng và khẳng định tư duy con người chỉ có thể nhận thức được sự vận động biện chứng của hiện thực một cách khách quan và hoàn thiện nhất khi tư duy con người đạt đến trình độ duy vật biện chứng.

        Như chúng ta đã biết, bất kỳ một lĩnh vực nào trong đời sống con người cũng đều có lịch sử phát triển của nó, lịch sử phát triển của xã hội loài người càng thể hiện rõ điều đó. Tuy nhiên, lịch sử phát triển của xã hội loài người có một đặc điểm khác biệt đó là lịch sử phát triển của loài người gắn liền với lịch sử phát triển của khoa học. Bước đi đầu tiên của loài người vượt lên đời sống tự nhiên để trở thành chủ thể tự nhiên cũng là dấu ấn đầu tiên của sự sáng tạo của con người, chính nhờ sự sáng tạo này mà con người biết lao động, biết tạo ra công cụ lao động, tư liệu sản xuất. Lao động đã trở thành phương thức tiến hóa của con người và cũng chính lao động là tiền đề đầu tiên đặt viên gạch khoa học cho lịch sử phát triển khoa học của con người. Cho đến ngày nay, khoa học đã phát triển với những bước nhảy vọt thần kỳ, khoa học đã giúp con người nhìn thấy quá trình vận động của hiện thực và phát hiện ra quy luật vận động của hiện thực. Chỉ ra được quy luật vận động của hiện thực có nghĩa con người đã khẳng định được tính khoa học của hiện thực đó, xác định được nó là đối tượng nghiên cứu của khoa học. Chính nhờ sự phát triển nhảy vọt của khoa học mà ngày nay nói đến sự phát triển của khoa học phải nói đến tư duy duy vật biện chứng, tính chất quan trọng đầu tiên của tư duy biện chứng là nhìn thấy sự vật đang vận động và phát triển trong mối liên hệ phổ biến của nó. Không nhìn thấy quá trình vận động của hiện thực và phát hiện ra quy luật vận động của nó sẽ làm cản trở sự sáng tạo và đương nhiên không có khoa học đích thực, nếu có nó chỉ dừng lại ở mức duy tâm biện chứng mà thôi, nghĩa là biện chứng của tự nhiên và biện chứng của tư duy con người không bắt gặp nhau. Ở đây chúng ta cần làm rõ một quan điểm mà ít ai để ý về đặc điểm của tư duy với sự vận động của hiện thực theo quan điểm của triết học Mác - Ăngen đó là sự bắt gặp thống nhất giữa phép biện chứng trong tư duy con người với biện chứng của hiện thực đang vận động. Một khi phép biện chứng trong tư duy con người sau khi đã được nâng cao thống nhất với phép biện chứng trong thực tiễn thì mới thể hiện phép biện chứng để hoàn thiện tư duy duy vật biện chứng. Sự thống nhất giữa tư duy biện chứng của con người với sự vận động biện chứng của hiện thực (tư nhiên) là sự thống nhất của sự sáng tạo và phát triển, của tính cách mạng trong tiến trình phát triển của lịch sử loài người và đó cũng chính là mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn. Sự thống nhất đó là khả năng lý giải thực tiễn một cách khoa học nhất thông qua việc con người tự tích lũy cho mình kiến thức và quá trình sử dụng kiến thức đó như thế nào: “Do đó, phép biện chứng được quy thành khoa học về các quy luật chung của sự vận động của thế giới bên ngoài cũng như của tư duy con người, thành hai loạt quy luật đồng nhất về chất nhưng về biểu hiện thì khác nhau theo ý nghĩa là bộ óc con người có thể áp dụng những quy luật đó một cách có ý thức, và cho đến nay phần lớn cả trong lịch sử loài người, những quy luật đó tự mở cho mình một con đường đi, một cách vô ý thức, dưới hình thức tính tất yếu bên ngoài, giữa một chuỗi vô cùng tận những ngẫu nhiên bề ngoài.  Nhưng như vậy thì bản thân biện chứng của khái niệm cũng chỉ đơn thuần là sự phản ánh có ý thức của sự vận động biện chứng của thế giới hiện thực”. (Phri-đrich Ăng-ghen, Lút-vích Phoi-ơ-bắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức, NXB Sự thật, H 1976.tr 67).

         Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã thể hiện rất rõ năng lực tư duy sáng tạo và tính cách mạng của con người trong đời sống lao động của mình qua các giai đoạn phát triển, đó là sự phát triển hoàn toàn khách quan, là quá trình vận động phát triển vật chất mà tự nhiên đã ban tặng cùng với những gì con người tạo ra. Năng lực sáng tạo và cách mạng là hai yếu tố khởi nguồn cho sự phát triển của khoa học trong quá trình lao động tạo ra nguồn sống cho con người, tư vấn, giám định, phản biện (TV,GĐ,PB) xã hội xuất hiện trong quá trình lao động một cách tự nhiên như nó vốn có trong thực tiễn, là hiện thân của thực tiễn khi trình độ nhận thức và kỹ năng lao động của con người ở trình độ cao của văn minh. Vậy việc xác định tính chất biện chứng của sự xuất hiện này (TV,GĐ,PB) trong dòng chảy của hiện thực cùng với việc chỉ ra quy luật vận động của nó để khẳng định tính khoa học của nó là nhiệm vụ quan trọng cho sự vận động khách quan của hiện thực: “để cho ý thức cộng sản chủ nghĩa đó nảy sinh ra được trong đông đảo quần chúng, cũng như để đạt được chính ngay mục đích ấy thì cần phải có một có một sự biến đổi của đông đảo quần chúng; song sự biến đổi này chỉ có thể tiến hành được bằng một phong trào thực tiễn, bằng cách mạng; do đó, cuộc cách mạng ấy phải được làm cho nó trở thành cần thiết, không những chỉ vì nó là phương tiện duy nhất để lật đổ giai cấp thống trị, mà còn chỉ vì có cách mạng mới khiến cho giai cấp đi lật đổ giai cấp khác có thể quét sách mọi thối nát của chế độ cũ đang bám chặt theo mình và trở thành có năng lực xây dựng xã hội trên những cơ sở mới” (Tuyển tập Mác – Ănghen,T1, NXB Sự thật, HN1980, tr304). Vấn đề ở đây không phải chúng ta đang lật đổ giai cấp khác, điều này đã qua rồi, mà chúng ta đang “trở thành có năng lực xây dựng xã hội trên những cơ sở mới”.

         Đến đây, chúng ta có thể nói rằng, từ nền tảng tư tưởng là Học thuyết Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề TV,PB&GĐXH không phải là một hoạt động do con người ngày nay áp đặt hoặc nó chỉ là vấn đề màu mè cần phải có và phải khuôn theo nó một cách hình thức mà trái lại, TV,PB&GĐXH là một hoạt động vốn có trong hoạt động sống của con người, nó chính là biểu hiện của sự sáng tạo, của tính cách mạng của mọi người làm cho quá trình phát triển của mình đúng đắn, khách quan, hợp quy luật; nói cách khác hoạt động TV,PB&GĐXH là hoạt động tất yếu, nó có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển xã hội con người, là hình thức quan trọng trong quá trình tiến hóa riêng của con người. Đây chỉ mới là sự khởi đầu trong cái nhìn khách quan và biện chứng của tư vấn, giám định và phản biện, vấn đề đặt ra là nhìn thấy tính khoa học cùa nó và cấu trúc hoạt động trong thực tiễn của nó, có như vậy mới đảm bảo một cách chắc chắn vai trò, vị trí và nhiệm vụ của tư vấn, giám định và phản biện trong thực tiễn không còn là vấn đề để tham khảo hay bàn bạc nhiều nữa.

II. CƠ SỞ KHOA HỌC

         Để chỉ ra cơ sở khoa học của hoạt động TV,PB&GĐXH chúng ta cần nhìn nhận nó trong một chuỗi vấn đề liên quan, có như vậy mới thấy được phạm trù khoa học đang vận động như thế nào trong thực tiễn để tránh sự phân định khoa học bằng khái niệm mang tính hình thức của thuật ngữ ấy. Ngay từ buổi đầu ra đời của khoa học theo quan điểm duy vật, cho dù đó là duy vật thô sơ, thì những yếu tố quan trọng ban đầu thể hiện đặc thù của khoa học đó là sự vật, hiện tượng đang vận động trong thực tế như thế nào (tên gọi của nó là gì), sự sáng tạo và tính cách mạng của nó để khẳng định bản chất của nó, và cuối cùng chỉ ra quy luật vận động của nó. Sự sáng tạo và tính cách mạng trong quá trình vận động thực chất tạo ra mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn. “Khoa học dịch sang tiếng Anh là Science. Vậy khoa học hay science là gì? Theo Luật Khoa học và Công nghệ, khái niệm khoa học được định nghĩa là hệ thống tri thức bao gồm tất cả những điều thuộc về bản chất, quy luật tồn tại cũng như phát triển của sự vật, hiện tượng và tư duy. Hiểu một cách đơn giản, khoa học chính là quá trình nghiên cứu của con người nhằm khám phá ra những kiến thức mới, quy luật hay học thuyết mới… về các vấn đề của tự nhiên và xã hội. Những kiến thức, quy luật hay học thuyết mới có đặc điểm là tốt hơn, có khả năng thay thế dần những điều cũ, điều lạc hậu và không còn phù hợp với xã hội”. Khoa học đánh dấu một bước phát triển vượt bậc trong việc tiếp cận các lĩnh vực so với các thời kỳ trước đó. Những thành công từ kết quả nghiên cứu khoa học gắn liền với thực tiễn, để từ đó đưa ra giải pháp, hướng đi phù hợp (Nguồn Internet).

         Trong quá trình nghiên cứu khoa học, vấn đề là xác định và tìm ra một hệ thống lý luận làm rõ quá trình hình thành và phát triển cũng như quy luật một vấn đề nào đó và đó chính là lý luận, trên cơ sở lý luận đó đưa vào thực tiễn để làm cho thực tiễn hoạt động một cách hiệu quả hơn, rút ngắn thời gian và đem lại cho con người lợi ích như mong muốn. Quá trình vận dụng đó cũng cho ta thấy không phải nghiên cứu khoa học nào, trước hết là khoa học cơ bản, không thể mang lại lợi ích ngay cho xã hội, mà cần có thời gian vận dụng vào thực tiễn để tạo ra của cải vật chất cho con người. Trong thời đại dân chủ và văn minh trình độ cao, toàn bộ đời sống của con người đã phát triển theo sự phát triển của khoa học. Từ những năm đầu của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Khoa học phải từ sản xuất mà ra và phải trở lại phục vụ sản xuất, phục vụ quần chúng, nhằm nâng cao năng suất lao động và không ngừng cải thiện đời sống của nhân dân, bảo đảm cho chủ nghĩa xã hội thắng lợi. Như vậy, nhiệm vụ của khoa học, kỹ thuật là cực kỳ quan trọng, cho nên mọi ngành, mọi người đều phải tham gia công tác khoa học, kỹ thuật, để nâng cao năng suất lao động, sản xuất ra nhiều của cải vật chất, để xây dựng chủ nghĩa xã hội thắng lợi” (Hồ Chí Minh, tuyển tập,T2,NXB Sự thật, 1980, tr208). Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ VI cũng đã khẳng định bằng bài học quan trọng khi chúng ta chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp với trình độ sản xuất thuần nông sang kinh tế thị trường: “Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan. Năng lực nhận thức và hành động theo quy luật khách quan là điều kiện đảm bảo sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng”.

         Xem xét cơ sở khoa học của tư vấn, giám định, phản biện phải xuất phát từ hai khía cạnh: thứ nhất là phải xuất phát từ tư duy khoa học của con người, thứ hai là tính khoa học của bản thân hoạt động tư vấn, giám định, phản biện, nghĩa là xác định tư vấn, giám định, phản biện đã là đối tượng của khoa học hay chưa. Khía cạnh thứ nhất như đã trình bày ở trên, thời đại ngày nay là thời đại của khoa học, những sản phẩm do con người tạo ra đều mang tính khoa học rất rõ, khoa học là sản phẩm của tư duy khoa học mà tư duy khoa học chỉ có khi con người đạt đến tư duy duy vật biện chứng, vì vậy việc khuyến khích mọi người phát huy vai trò của khoa học bằng việc phát triển tư duy khoa học trong hoạt động sáng tạo và tính cách mạng của mình là cần thiết và tối quan trọng mà chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước luôn luôn khuyến khích. Đây chính là tiền đề cho nền kinh tế tri thức và cũng là sự phát triển tất yếu của tư duy con người mặc dù đâu đó vẫn còn những cá nhân mệnh danh là nhà khoa học. Ở khía cạnh thứ hai là nhìn nhận tính khoa học của bản thân hoạt động tư vấn, giám định, phản biện. Tính khoa học của hoạt động này được nhận diện trước hết là nó đã trở thành đối tượng để nghiên cứu hay chưa? Bản chất của nó là cái gì? Nó đang vận động trong thực tiễn như thế nào và hệ thống cũng như quy luật hoạt động của nó trong thực tiễn như thế nào?

Như chúng ta đã biết, hoạt động tư vấn, giám định, phản biện là biểu hiện cao của việc nhận thức thế giới, nhận thức thực tiễn để hình thành nên hành động thực tiễn đảm bảo cho sự hoàn thiện cao nhất trong tính tương đối của nó. Theo đồng chí Phạm Thế Minh – Phó Chủ tịch Tổng Hội xây dựng Việt Nam:

  1. Theo từ điển tiếng Việt thì “tư vấn” là động từ chỉ hoạt động góp ý kiến về những vấn đề được hỏi đến, nhưng không có quyền quyết định vấn đề đó.

Còn “phản biện” cũng là động từ chỉ hành động đánh giá chất lượng một công trình khoa học (hoặc một dự án, một chính sách…) khi được đưa ra bảo vể trước cuộc thi nào đấy.

Như vậy, có thể hiểu tư vấn – phản biện là động từ kép nhằm “góp ý, đánh giá” cho một công trình khoa học, một dự án đầu tư xây dựng hay một quy định thể chế chính sách nào đấy.

  1. Những cơ sở khoa học và thực tiễn của hoạt động tư vấn-phản biện xuất phát từ: - Có thể khẳng định rằng trong thực tiễn hoạt động nghiên cứu khoa học, lập dự án hoặc đề xuất các chình sách dù các tác giả có chuẩn bị đẩy đủ, kỹ càng đến đâu thì vẫn có những thiếu sót, những đánh giá chủ quan thậm chí có những sai lầm.

Do đó tư vấn-phản biện như một việc làm để thẩm định lại, để vạch ra những thiếu sót, những đề xuất mang tính chủ quan, sai lầm mà các tác giả công trình chưa thấy được hết. Nó là cho công trình, dự án hoàn thiện hơn, hợp lý hơn và có giá trị thực tế hơn.

Theo Obama, Tổng thống thứ 44 của Hoa Kỳ thì hoạt động tư vấn-phản biện và giám định xã hội được coi như chiếc gương cho mọi hoạt động soi vào mà biết được những thiếu sót, những lệch lạc cần bổ sung, sửa chữa cho phù hợp. Cũng có thể ví  tư vấn-phản biện như hòn đá để thử các vật dụng đã đủ độ cứng, độ sắc bén chưa trước khi đưa ra sử dụng” (Nguồn Internet).

III. VAI TRÒ CỦA TÂM LÝ HỌC TRONG TƯ VẤN, PHẢN BIỆN VÀ GIÁM ĐỊNH XÃ HỘI

Nếu chúng ta đã khẳng định TV,PB&GĐXH là chức năng cần thiết của một xã hội dân chủ, văn minh thì tâm lý học cũng là một khoa học, là chức năng quan trọng trong việc nghiên cứu các vấn đề thuộc khoa học xã hội. Tư vấn, phản biện và giám định xã hội là chức năng không bị phân chia thuộc khoa học tự nhiên hay khoa học xã hội mà nó bao hàm cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Tâm lý học đang ngày càng thể hiện rõ vai trò của nó trong lĩnh vực khoa học xã hội và hơn bao giờ hết nó góp phần không nhỏ trong quá trình lao động, trong quá trình phát triển kinh tế xã hội. Với phép biện chứng, con người xây dựng khoa học tự nhiên để từ đó xây dựng khoa học xã hội, tính chính xác của khoa học tự nhiên giúp con người tiếp cận khoa học xã hội một cách chính xác hơn và đến lượt nó, khoa học xã hội đang làm nhiệm vụ khám phá quy luật tự nhiên và quy luật xã hội của con người: “Hai là, Phoi-ơ-bắc đã hoàn toàn đúng, khi ông nói rằng chủ nghĩa duy vật của chỉ riêng khoa học tự nhiên mới là “cơ sở của tòa kiến trúc tri thức con người, nó không phải là bản thân tòa kiến trúc đó”. Vì chúng ta không những chỉ sống  trong tự nhiên mà còn sống trong xã hội loài người, mà xã hội loài người cũng có lịch sử phát triển của nó và khoa học của nó, không kém gì tự nhiên. Do đó vấn đề là làm cho khoa học về xã hội, nghĩa là toàn bộ những khoa học được gọi là khoa học lịch sử và khoa học triết học, phù hợp với cơ sở duy vật chủ nghĩa và xây dựng lại khoa học xã hội bằng cách dựa trên cơ sở đó” (Phri-đrich Ăng-ghen, Lút-vích Phoi-ơ-bắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức, NXB Sự thật, H1976,tr 43-44). Và Ăng-ghen khẳng định: “…và vấn đề chỉ là phát hiện ra những quy luật đó” (Phri-đrich Ăng-ghen, Lút-vích Phoi-ơ-bắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức, NXB Sự thật, H1976, tr 75).

Tâm lý học là khoa học nghiên cứu về quy luật vận động và phát triển của ý thức, hành vi, cảm xúc, về tư duy… của con người, ta thường gọi là tâm lý người. Với lý do đó mà tâm lý học với tư cách là tâm lý người không phải là cái gì xa lạ với tất cả mọi con người, nó không phân biệt giới tính, thể chất, dân tộc, tôn giáo, đảng phái, địa vị xã hội, tuổi tác, nghĩa là bất kỳ ở đâu có con người ở đó có tâm lý người và mọi con người đều có thể hiểu về tâm lý người theo cấp độ tư duy mà họ đang có. Chỉ có điều, từ mức độ đó chỉ ra con đường mà họ phải hướng tới, tiếp tục như thế nào cho hành trình của chính mình một cách khách quan nhất. Không ai tự mình cản trở con đường đi của mình, cản trở sự phát triển của mình, cản trở sự phát triển của hoàn cảnh, nhưng đúng hay chưa đúng, phù hợp hay chưa phù hợp, về đâu và đến đâu thì không phải ai cũng thấy được, giải quyết vấn đề này thuộc sứ mệnh của tâm lý người trên cơ sở học thuyết Mác – Lê-nin. Điều này sẽ làm thay đổi cách nghĩ, cách làm, cách sống của con người một cách rõ rệt, quan hệ giữa người với người, thay đổi một cách căn bản trong cách nhìn giữa lý luận và thực tiễn, rút ngắn khoảng cách giữa lý luận và thực tiễn đảm bảo cho một sự phát triển biện chứng trong tiến trình phát triển của con người. Thời đại ngày nay đòi hỏi phải có sự hiểu biết về con người một cách sâu sắc, khách quan và khoa học thực sự, kiến thức về tâm lý học mà nhất là tâm lý người đang là một nhu cầu bức bách không chỉ để khẳng định con người, hiểu cuộc sống con người mà để khẳng định xã hội và vai trò của xã hội trong việc hình thành nhân cách con người nói riêng, hình thành một xã hội nói chung. Hiểu tâm lý học mà cụ thể là Tâm lý người mới hiểu được học thuyết Mác một cách đầy đủ và ngược lại, chính Lê-nin đã từng nói: “Có thể vắn tắt nêu công lao của Mác và Ăng-ghen đối với giai cấp công nhân như sau: hai ông đã dạy cho công nhân tự nhận thức được mình và có ý thức về mình, và đã đem khoa học thay thế cho mộng tưởng” (Lê-nin toàn tập, T2, NXB Tiến bộ, Mat-xcơ-va 1978, tr5). Đó là một nhận định ngắn gọn nhưng chứa đựng trong đó là sự vận động của lịch sử tự nhiên và lịch sử loài người. Một xã hội công nghệ không thể hiểu con người một cách phiến diện theo cái cách ứng dụng những kiến thức tâm lý hiện nay vào lĩnh vực này hay lĩnh vực khác nữa mà phải hiểu con người đang hoạt động hàng ngày hàng giờ trong hoàn cảnh của mình để khẳng định sự phát triển của mỗi cá nhân trong cộng đồng mình đang sống ở bất kỳ lĩnh vực nào trong chiều dài phát triển của lịch sử loài người. Tâm lý người vì thế trở thành chìa khóa cho sự phát triển của cá nhân và hoàn cảnh của cá nhân đó. Tâm lý người không chỉ thuần túy nghiên cứu hoạt động của con người với tư cách là một chủ thể độc lập mà nghiên cứu con người đồng thời với hoàn cảnh mà con người đó đang sống. Tính thống nhất giữa cá nhân và hoàn cảnh là mục đích nghiên cứu của tâm lý học hiện đại.

Vai trò của tâm lý học ngày nay là làm thế nào để hiểu con người đang sống và hành động trong mọi mặt đời sống của con người, tâm lý học là cơ sở để lý giải năng lực tư duy và trình độ tư duy của con người thông qua việc phát triển ý thức. Theo quy luật phát triển của tư duy thì tư duy phải được nâng cao hơn để trở thành ý thức trí tuệ, ý thức trí tuệ là cốt lõi của hành vi đạo đức. Một khi trí tuệ phát triển, quyền lực thứ tư (trí tuệ) xuất hiện, tức là sức sống được khẳng định từ lao động, mặt trái của hoạt động của con người sẽ từng bước giảm dần, thay vào đó là quan hệ hai chiều mang tính khoa học, sự cân bằng giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần buộc con người phải liên kết rộng hơn, giá trị văn hóa dân tộc được đề cao hơn, giá trị tinh thần hài hòa giữa đời sống tâm linh (các tín ngưỡng) và đạo lý, đạo nghĩa, đạo đức, chân lý cuộc sống được khẳng định. Quyền lực trí tuệ vì thế biến cái không thể thành cái có thể, triệt tiêu dần mặt trái là những hiểm họa do con người và tự nhiên tạo ra mà suy cho cùng là do con người. Quyền lực trí tuệ giúp con người có hành động trí tuệ, có nghĩa là năng lực hành động đúng quy luật, đó chính là hành động đạo đức. Chỉ có trong hoạt động thực tiễn, con người thể hiện hành động thực tiễn của mình đến mức nào hoàn toàn do nhận thức quyết định, năng lực lý giải thực tiễn và năng lực hành động thực tiễn thuộc quyền lực trí tuệ sẽ là sự bảo tồn cho sự phát triển của con người và xã hội. Nhận thức đạt đến chân lý đem đến cho con người khả năng khám phá quy luật, nhận chân ra sự phát triển của mọi hiện tượng sự vật mang tính quy luật, đó là quy luật của vận động và phát triển. Một khi trình độ tư duy đạt đến tư duy duy vật biện chứng cũng có nghĩa đạo đức trở thành yếu tố nội lực của sự phát triển và nó chính là sức mạnh tinh thần có khả năng phát huy đúng đắn nhất, mạnh mẽ nhất các giá trị vật chất mà con người tạo ra trong quá trình phát triển của mỗi cá nhân và hoàn cảnh của cá nhân đó mà ta thường gọi chung là mặt xã hội của con người. Đó chính là quy luật tiến hóa của con người.

IV. Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN, PHẢN BIỆN VÀ GIÁM ĐỊNH XÃ HỘI

Nhận thức chân lý khách quan là quá trình thúc đẩy sự phát triển xã hội của con người để hoàn thiện mặt xã hội của con người, chúng ta không chỉ giải quyết những vấn đề về thế giới xung quanh mình mà ngay chính bản thân mình, trong cuộc sống của con người mà quan trọng là trong mối quan hệ giữa người với người. Nhận thức thông thường và nhận thức chân lý là hai mức độ khác nhau về nhận thức, nhận thức thông thường là trình độ nhận thức thấp hơn thuộc giai đoạn nhận thức cảm tính. Nhận thức chân lý chỉ có ở trình độ tư duy cao hơn vì nó không phân biệt rạch ròi giữa đúng và sai mà nó nhìn thấy kết quả của nhận thức bằng sự nâng dần lên, là quá trình sự chuyển hóa từ những thay đổi về số lượng dẫn đến thay đổi về chất lượng và ngược lại,  bằng sự phủ định trong mối liên hệ phổ biến của sự vật. Ngay từ đầu, trong chừng mực trình độ tư duy còn ở mức độ thấp, khoa học chưa đóng vai trò quyết định, nhưng trong lao động, với sự tích lũy của mình, con người đã đúc kết được những giá trị để con người lao động và tồn tại theo cái cách của con người mà loài vật không thể có được. Quá trình tích lũy các giá trị đồng thời cũng là quá trình chuyển từ cấp độ tư duy này sang cấp độ tư duy khác, và chỉ khi tư duy sáng tạo mang tính phổ biến, khoa học thực sự phát triển, cấp độ tư duy duy vật biện chứng trở thành thực tiễn thì chân lý được tiếp cận một cách khoa học nhất và khách quan nhất, đó cũng là đòi hỏi của thời đại ngày nay, thời đại công nghệ:“Nhận thức của con người không phải là (respective-không đi theo) một đường thẳng, mà là một đường cong đi gần vô hạn đến một loạt những vòng tròn, đến một vòng xoáy ốc. Bất cứ đoạn nào, khúc nào, mảnh nào của đường con ấy cũng có thể chuyển hóa (chuyển hóa một cách phiến diện) thành một đường thẳng độc lập, đầy đủ, đường thẳng này (nếu chỉ thấy cây không thấy rừng) sẽ dẫn đến vũng bùn, đến chủ nghĩa thầy tu (ở đây nó sẽ bị lợi ích giai cấp của giai cấp thống trị củng cố lại)…” (Lê-nin toàn tập - T29, NXB Tiến bộ, Mát-xcơ-va 1978, tr385). Từ quan điểm đó, tư vấn, giám định và phản biện xã hội là hoạt động không thể thiếu trong tiến trình phát triển nhận thức của con người nhất là trong hoạt động khoa học. Tuy nhiên, trong thực tế TV,PB&GĐXH vẫn còn nhiều bất cập trước hết từ nhận thức: “Có thể khẳng định rằng trong thực tiễn hoạt động nghiên cứu khoa học, lập dự án hoặc đề xuất các chình sách dù các tác giả có chuẩn bị đẩy đủ, kỹ càng đến đâu thì  vẫn có những thiếu sót, những đánh giá chủ quan thậm chí có những sai lầm” (Phạm Thế Minh – Phó Chủ tịch Tổng Hội xây dựng Việt Nam). Thiếu sót, sai lầm ở đây không phải là điều gì kém cỏi mà là cái phần thiếu tất yếu mà không phải ai cũng có thể hoàn thiện ngay từ đầu được. Ngay cả khi tư duy duy vật biện chứng cũng không phải đã là hoàn thiện, hoàn mỹ: “Đối với triết học biện chứng thì không có gì là tối hậu, là tuyết đối, là thiêng liêng cả. Nó chỉ ra tính chất quá độ của mọi sự vật và trong mọi sự vật, và đối với nó, không có gì có thể đứng vững được ngoài quá trình không ngừng của sự sinh thành và sự tiêu vong, của sự tiến triển vô cùng tận từ thấp đến cao. Bản thân triết học biện chứng cũng chỉ là sự phản ánh của quá trình đó vào trong bộ óc biết suy nghĩ. Tất nhiên nó cũng có mặt bảo thủ; nó thừa nhận rằng những giai đoạn nhất định của nhận thức và của xã hội đều có lý do tồn tại trong thời đại và điều kiện của những giai đoạn ấy, nhưng chỉ như thế thôi. Tính chất bảo thủ của phương thức lý giải đó là tương đối, còn tính cách mạng của nó là tuyệt đối – đó là cái tuyệt đối duy nhất được triết học biện chứng thừa nhận” (Phri-đrich Ăng-ghen, Lút-vích Phoi-ơ-bắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức, NXB Sự thật, H1976, tr18). Tính cách mạng ở đây là sự bổ sung để đầy đủ hơn, hoàn thiện hơn và đó cũng chính là sự nâng tầm nhận thức một cách khoa học nhất cho con người.

Từ thực tiễn hoạt động tư vấn của Trung tâm tư vấn tâm lý – xã hội, chúng tôi đã thực hiện nhiều hoạt động tư vấn đảm bảo tính khoa học cho các đơn vị, các cơ quan của tỉnh. Các đơn vị, các cơ quan đã được Trung tâm tư vấn đều thừa nhận một thực tế là phần lớn nội dung hoạt động của các đơn vị mang tính chất phong trào, thiếu tính chất chuyên sâu và khoa học. Trung tâm đã cung cấp những nội dung chuyên sâu từ những nghiên cứu khoa học đáp ứng được yêu cầu của đơn vị. Ở đây có sự bắt gặp với tính thống nhất cao giữa các nhà quản lý, những người hoạt động thực tiễn và các nhà khoa học. Nội dung mà Trung tâm cung cấp đảm bảo giúp nâng cao nhận thức lý luận cho cán bộ đem những chỉ thị, nghị quyết, chủ trương đến với nhân dân một cách dễ hiểu, phù hợp với trình độ dân trí và nhận thức từng vùng. Tuy nhiên, sự kết hợp này không mang tính phổ biến nhất là trong giai đoạn hiện nay, các nhà quản lý đều đảm bào tính hoàn thiện, hoàn mỹ của mình, họ thường đồng nhất tính phong trào và tính khoa học trong hoạt động thực tiễn của đơn vị mình làm cho sự kết nối giữa các nhà khoa học với đơn vị chủ quản thường có một khoảng cách xa không tiếp cận được.

Hoạt động phản biện cũng như vậy, phản biện xã hội dĩ nhiên cũng phải được thực hiện như phản biện khoa học cho nên để có được giá trị khoa học và sự bổ sung khoa học kịp thời trước hết cần phải có nhận thức động bộ. Sự phát triển của một vùng, miền… không thể không nói tới tính khoa học và trình độ nhận thức. Trong “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 3-6-2020 khẳng định: “Nhận thức đóng vai trò quyết định trong chuyển đổi số”. Việc nâng cao nhận thức, nghĩa là làm sao đảm bảo được tính hệ thống, đồng bộ trong việc thực hiện TV,PB&GĐXH. Đảm bảo tính hệ thống, tính đồng bộ cũng đống thời thể hiện tư duy duy vật biện chứng. 

Từ ý kiến trên, chúng ta có thể thấy bản thân tư vấn - phản biện là một phần trong hoạt động khoa học và đương nhiên nó tồn tại với tư cách là một bộ phận thuộc lĩnh vực khoa học. Với tư cách là một bộ phạn thuộc lĩnh vực khoa học, TV,PB&GĐXH phải được đặt trong hệ thống của nó bao gồm: Nhà nước (với vai trò kiến tạo) – Các nhà khoa học (đơn vị chủ quản là LHH) – Người tiêu dùng (người thụ hưởng). Nhà nước thực hiện chủ trương của Đảng mở đường và định hướng hoạt động, tạo điều kiện cho LHH là đơn vị kết nối các tổ chức, đoàn thể với các nhà khoa học đảm bảo nội dung phù hợp với nguyện vọng, hướng phát triển của nhân dân (người thụ hưởng). Ở đây chúng ta cần phân biệt TV,PB&GĐXH với Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị xã hội (gọi tắt là QĐ 217). 

V. KẾT LUẬN

Hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội thực chất là hoạt động bổ sung, chia sẻ của các nhà khoa học nhằm hướng tới việc thực hiện một dự án, một chiến lược, một chính sách… một cách tương đối hoàn thiện nhất. Thời đại ngày nay là thời đại của công nghệ, của môi trường số cũng có nghĩa là môi trường của tư duy duy vật biện chứng, của chia sẻ để liên kết, để kết nối.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Phri-đrich Ăng-ghen, Lút-vích Phoi-ơ-bắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức, NXB Sự thật, H 1976.

2. Tuyển tập Mác – Ănghen,T1, NXB Sự thật, HN1980.

3. Từ điển Wikipedia -  Internet.

4. Hồ Chí Minh, tuyển tập,T2,NXB Sự thật, 1980.

5. Phạm Thế Minh – Phó Chủ tịch Tổng Hội xây dựng Việt Nam. Internet.

6. Lê-nin toàn tập,T2,NXB Tiến bộ,Mat-xcơ-va 1978.

7. Lê-nin toàn tập-T29, NXB Tiến bộ, Mát-xcơ-va 1978.

Tin liên quan