LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT
TỈNH LÂM ĐỒNG
Số 05 Trần Nhân Tông, Phường Lâm Viên - Đà Lạt - Điện thoai: 0263.3533247 - 3521668 - Email: lienhiephoilamdong@gmail.com

Thông tin về thực trạng và giải pháp phát triển công nghiệp của tỉnh Bình Thuận

Danh mục: Tư vấn phản biện Ngày đăng: 31 tháng 3 năm 2023

THÔNG TIN VỀ THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CỦA TỈNH BÌNH THUẬN

                                                                     

Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Bình Thuận

 

Phát triển công nghiệp được tỉnh Bình Thuận xác định là một trong ba trụ cột của phát triển kinh tế - xã hội tỉnh. Trong thời gian qua, tỉnh đã ban hành nhiều chính sách ưu đãi để kêu gọi thu hút các nhà đầu tư, đầu tư cơ sở hạ tầng tạo tiền đề cho phát triển công nghiệp của tỉnh. Định hướng phát triển công nghiệp của tỉnh khuyến khích, khai thác tốt những sản phẩm lợi thế của tỉnh, đồng thời tạo mọi điều kiện cho các sản phẩm khác cùng phát triển. Thu hút những nhà đầu tư có năng lực, dự án có công nghệ cao, bảo đảm môi trường. Ưu tiên phát triển công nghiệp năng lượng, công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản và chế biến sa khoáng; mở rộng, phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo ngoài khơi, kêu gọi đầu tư sản xuất phụ trợ cho ngành năng lượng. Đến nay, công nghiệp của Bình Thuận đã có nhiều sự thay đổi, các khu công nghiệp đang dần phát huy sức mạnh, chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu kinh tế. Với các định hướng cùng sự nỗ lực của tỉnh Bình Thuận, trong thời gian tới, ngành công nghiệp của tỉnh sẽ có bước phát triển mạnh, đóng góp lớn cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

I. Thực trạng phát triển công nghiệp của tỉnh Bình Thuận

1. Hoạt động của các khu công nghiệp và cụm công nghiệp

Hoạt động công nghiệp của tỉnh chủ yếu được bố trí trong các khu công nghiệp (KCN) và cụm công nghiệp (CCN). Tính đến năm 2021, tỉnh Bình Thuận đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận quy hoạch phát triển 09 KCN. Trong đó các KCN đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư, đang đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và thu hút đầu tư gồm 07 KCN: KCN Phan Thiết I và II, Hàm Kiệm I và II, Sông Bình, Tuy Phong, Sơn Mỹ I với tổng diện tích 2.163,43 ha. Cụ thể:

+ Đối với KCN Phan Thiết: Phát triển 02 giai đoạn; giai đoạn 01 có quy mô 68 ha, diện tích đất công nghiệp cho thuê 50,23 ha, KCN đã hoàn chỉnh đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng bảo đảm cho hoạt động của các doanh nghiệp, đến nay đã có 28 dự án đầu tư trong nước và 12 dự án đầu tư có vốn nước ngoài lấp đầy 100% diện tích đất cho thuê; giai đoạn 02 có quy mô 40,7 ha, diện tích đất công nghiệp cho thuê 28,09 ha, KCN cơ bản đã hoàn chỉnh đầu tư xây dựng hệ thống đảm bảo cho hoạt động của các doanh nghiệp, đến nay đã có 09 dự án đầu tư trong nước và 03 dự án đầu tư nước ngoài chiếm 81,8% diện tích đất cho thuê.

+ KCN Hàm Kiệm được quy hoạch thành KCN Hàm Kiệm I và II: KCN Hàm Kiệm 01 có quy mô 132,67 ha, diện tích đất công nghiệp cho thuê 90,78 ha. KCN cơ bản đã hoàn thành hệ thống hạ tầng kỹ thuật thiết yếu để thu hút đầu tư. Đến nay, đã có 06 dự án đầu tư nước ngoài và 12 dự án đầu tư trong nước chiếm 51,2% diện tích đất cho thuê; KCN Hàm Kiệm II có quy mô 402,06 ha, diện tích đất công nghiệp cho thuê 276,93 ha, KCN cơ bản đã hoàn thành hệ thống hạ tầng thiết yếu để thu hút đầu tư. Đến nay đã có 06 dự án trong nước và 07 dự án đầu tư nước ngoài, chiếm 17,4% diện tích đất cho thuê.

+ KCN Sông Bình có quy mô 300 ha, diện tích đất công nghiệp cho thuê 203,65 ha. KCN đang triển khai đầu tư hạ tầng thiết yếu. Đây là KCN duy nhất có ngành nghề chế biến sâu khoáng sản titan. Đến nay, KCN đã có 01 dự án trong nước và 01 dự án đầu tư nước ngoài chiếm 19,8% diện tích đất cho thuê. Dự kiến KCN sẽ tiếp tục đầu tư hoàn thành xây dựng hạ tầng trong những năm tiếp theo.

+ KCN Tuy Phong có quy mô 150 ha, diện tích đất nông nghiệp cho thuê 97,90 ha. KCN đang triển khai đầu tư hạ tầng thiết yếu.

+ KCN Sơn Mỹ I có quy mô 1.070 ha, diện tích đất công nghiệp cho thuê 730,43 ha. KCN đang tiến hành đền bù giải phóng mặt bằng và chuẩn bị cho giai đoạn khởi công. 

- Các KCN đang triển khai các thủ tục chuẩn bị đầu tư, đền bù giải phóng mặt bằng để đầu tư xây dựng, gồm KCN Sơn Mỹ II (diện tích 540 ha) và KCN Tân Đức (diện tích 300 ha).

Toàn tỉnh hiện nay có 36 CCN với tổng diện tích là 1.182,8 ha, có 27/36 CCN được thành lập, các CCN đang từng bước đầu tư, hoàn thiện kết cấu hạ tầng để thu hút đầu tư.

2. Phát triển của các ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh

- Công nghiệp chế biến nông, lâm nghiệp và thuỷ sản: Toàn tỉnh có 950 cơ sở sản xuất, kinh doanh sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản (bao gồm doanh nghiệp và hộ gia đình).

- Công nghiệp hỗ trợ sản xuất các loại nguyên vật liệu, phụ kiện, phụ tùng… đến nay trên địa bàn tỉnh có một số dự án quy mô sản xuất lớn như dự án sản xuất bửng ô tô của công ty TNHH IST (KCN Phan Thiết) đang hoạt động, dự án nhà máy dây khoá kéo KaoShing (CCN Hàm Đức) và một số dự án sản xuất linh kiện điện tử và phụ tùng có hồ sơ đăng ký vào CCN Đông Hà (huyện Đức Linh), CCN Nghĩa Hoà (Huyện Hàm Tân).

- Các làng nghề được sự quan tâm phát triển, hoạt động ổn định. Toàn tỉnh có 04 làng nghề nông thôn được công nhận đạt tiêu chí theo quy định tại Nghị định số 52/2018/NĐ-CP ngày 12/4/2018 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn, đó là: Làng nghề bánh tráng Phú Long (huyện Hàm Thuận Bắc), Làng nghề bánh tráng Chợ Lầu (huyện Bắc Bình), Làng nghề mây tre đan xã Đông Hà (huyện Đức Linh), Làng nghề Gốm Bình Đức (huyện Bắc Bình).

- Công nghiệp sản xuất điện có tốc độ tăng trưởng cao và ổn định, trong giai đoạn 2011 - 2020 đạt bình quân 26%/năm. Đến nay, toàn tỉnh có 42 nhà máy điện vận hành, phát điện với tổng công suất 6.285,38 MW.

3. Một số chỉ tiêu đạt được của ngành công nghiệp tỉnh

Ngành công nghiệp của tỉnh Bình Thuận có tốc độ tăng trưởng cao, với giá trị tăng thêm bình quân là 18,33%/năm. Cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp có sự dịch chuyển mạnh, nhóm ngành sản xuất và phân phối điện có bước phát triển đột phá và vươn lên chiếm vị trí dẫn đầu với 49,54% trong cơ cấu ngành công nghiệp tỉnh. Đây cũng là lĩnh vực đóng góp chủ yếu vào tốc độ tăng trưởng về giá trị tăng thêm của ngành, góp phần khẳng định ngành công nghiệp tiếp tục là động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo luôn chiếm vị trí dẫn đầu trong suốt những năm vừa qua:

- Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh 2010) năm 2021 ước thực hiện 35.978 tỷ đồng, đạt 89,65% kế hoạch, tăng 6,14% so với năm 2020; trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng đạt 1.918 tỷ đồng, tăng 51,4%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo 17.543 tỷ đồng, tăng 4,78%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí 16.264 tỷ đồng, tăng 4,09%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý nước thải, rác thải 253 tỷ đồng, giảm 4,2%.

- Chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2021 ước đạt 106,37%, trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng ước đạt 135,05%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước đạt 104,9%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí ước đạt 104,5%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý nước thải, rác thải ước đạt 101,5%.

- Các sản phẩm công nghiệp chủ yếu có 14/16 sản phẩm tăng so cùng kỳ; trong đó, một số sản phẩm có mức tăng trưởng cao như: đá xây dựng các loại (+42,68%), giày, dép các loại (+42,23%), cát sỏi các loại (+13,93%), sản phẩm may mặc (+7,05%), thức ăn gia súc (+11,05%), sơ chế mủ cao su (+28,05%).

Hoạt động sản xuất công nghiệp vẫn duy trì và có mức tăng trưởng trung bình khá so với năm 2020 do có sự đóng góp của ngành công nghiệp khai khoáng, các doanh nghiệp trong lĩnh vực này đã tập trung đẩy mạnh sản xuất để chuẩn bị nguyên vật liệu phục vụ cho 02 công trình trọng điểm trên địa bàn tỉnh là: đường cao tốc đoạn Dầu Giây - Phan Thiết và đoạn Phan Thiết - Vĩnh Hảo. Đối với ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước ít bị tác động về yếu tố nguồn nguyên liệu và thị trường xuất khẩu vẫn duy trì mức tăng trưởng và đóng góp lớn vào giá trị sản xuất công nghiệp.

II. Thuận lợi và khó khăn

1. Thuận lợi

Phát triển công nghiệp được xác định là nhiệm vụ trọng tâm của Bình Thuận. Trong thời gian qua, tỉnh đã ban hành nhiều chính sách ưu đãi cho các nhà đầu tư nhằm tạo sự bứt phá trong phát triển kinh tế tỉnh nhà, đặc biệt là Nghị quyết số 09-NQ/TU với mục tiêu là phát triển công nghiệp thực sự trở thành trụ cột kinh tế, tạo động lực phát triển kinh tế của tỉnh.

Tỉnh cũng tập trung đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện hạ tầng các khu, cụm công nghiệp; đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư, mời gọi các nhà đầu tư lớn, có tiềm lực, có trình độ khoa học, công nghệ cao, thân thiện môi trường đầu tư vào ngành công nghiệp của tỉnh.

2. Khó khăn

Ngành công nghiệp tỉnh phát triển chưa đồng bộ, tăng trưởng chủ yếu dựa vào công nghiệp năng lượng; công nghiệp chế biến, chế tạo và ngành công nghiệp khai khoáng phát triển chậm. Đa số các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo hoạt động trên địa bàn tỉnh có quy mô vừa và nhỏ, công nghệ còn lạc hậu, chưa có nhiều sản phẩm mới, khả năng cạnh tranh còn nhiều khó khăn, sự liên kết từ khâu sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm chưa tốt.

Các chính sách ưu đãi đầu tư thu hút vào các dự án sản xuất các thiết bị điện, linh kiện điện tử, lắp ráp máy móc, ô tô, xe máy, sản xuất phụ trợ cho ngành năng lượng (sản xuất pin mặt trời, chế tạo cơ khí, sản xuất thiết bị điện dưới nước…) chưa thực sự hiệu quả.

Hạ tầng giao thông kết nối các KCN, CCN với hạ tầng quốc gia và của tỉnh còn hạn chế. Hạ tầng kỹ thuật trong các KCN, CCN còn thiếu, chưa đồng bộ (giao thông, cấp điện, cấp thoát nước, xử lý rác thải, nước thải…).

III. Một số giải pháp đẩy mạnh phát triển công nghiệp của tỉnh trong thời gian tới

Để phát triển ngành công nghiệp của tỉnh và khẳng định ngành công nghiệp là một trong ba trụ cột phát triển kinh tế của tỉnh, một số giải pháp cụ thể như sau:

1. Nâng cao chất lượng lập quy hoạch và quản lý quy hoạch, đẩy mạnh huy động nguồn lực đầu tư kết cấu hạ tầng hỗ trợ phát triển công nghiệp

Tập trung lãnh đạo xây dựng và tổ chức thực hiện tốt các phương án phát triển hạ tầng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trong Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021 – 2030, định hướng đến năm 2050 và quản lý, thực hiện có hiệu quả quy hoạch; rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch sử dụng đất, tạo thêm quỹ đất để quy hoạch; thu hút các dự án phát triển công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến, chế tạo và công nghiệp phụ trợ, KCN công nghệ cao; tháo gỡ hiện trạng chồng lấn quy hoạch giữa các ngành, lĩnh vực với quy hoạch phát triển công nghiệp.

Tăng cường huy động nguồn lực Nhà nước và Doanh nghiệp để đẩy nhanh tiến độ đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng giao thông, điện, cấp thoát nước, bưu chính viễn thông... cho các khu, cụm công nghiệp, bảo đảm tính hệ thống, kết nối liên thông gắn với phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội; hỗ trợ và tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ hoàn thành tuyến đường bộ cao tốc Bắc - Nam đoạn qua địa bàn tỉnh; nâng cấp Quốc lộ 55, Quốc lộ 28B, sân bay Phan Thiết, Cảng Quốc tế Vĩnh Tân, Cảng quốc tế Sơn Mỹ. Đầu tư nâng cấp hoàn chỉnh Cảng vận tải tại Phan Thiết và các cảng cá; phát triển hệ thống dịch vụ logistics; tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức, cá nhân tiếp cận các nguồn vốn tín dụng, quỹ đầu tư để đầu tư phát triển công nghiệp.

2. Tập trung thu hút đầu tư, phát triển các ngành công nghiệp

2.1. Công nghiệp năng lượng

Tiếp tục thu hút đầu tư phát triển ngành công nghiệp năng lượng trở thành ngành kinh tế chủ lực, tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế của tỉnh, ưu tiên điện gió ngoài khơi, điện khí hóa lỏng LNG; kịp thời tháo gỡ những vướng mắc; xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư tiếp cận đất đai, mặt hồ, mặt biển... trong quá trình nghiên cứu đầu tư.  Tạo môi trường thu hút đầu tư tốt, thúc đẩy tiến độ triển khai, hoàn thành các công trình, dự án sản xuất điện đã có chủ trương đầu tư.

2.2. Công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản

 Đẩy mạnh thu hút, kêu gọi đầu tư tạo đột phá trong phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản gắn với các sản phẩm lợi thế của tỉnh như: hải sản, nước mắm, thanh long, cao su... với quy mô phù hợp, công nghệ hiện đại, tạo giá trị gia tăng cao. Xây dựng và triển khai các giải pháp đảm bảo nguồn cung cấp nguyên liệu đầu vào cho công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản; khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu phát triển, đổi mới công nghệ sản xuất, áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến, bảo đảm chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm và truy xuất nguồn gốc sản phẩm.

2.3. Công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản

Thực hiện tốt việc quản lý, khai thác và chế biến sâu quặng sa khoáng titan gắn với bảo vệ môi trường. Phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành Trung ương làm tốt công tác xúc tiến đầu tư, thu hút những nhà đầu tư có năng lực, kinh nghiệm, công nghệ tiên tiến, thân thiện môi trường để khai thác, chế biến sâu sa khoáng titan; tăng cường tìm kiếm thị trường tiêu thụ trong nước và mở rộng thị trường xuất khẩu các sản phẩm chế biến sâu từ quặng tintan.

2.4. Công nghiệp phụ trợ và các ngành công nghiệp khác

Phát triển một số ngành công nghiệp phụ trợ cho ngành năng lượng; sản xuất nguyên vật liệu, phụ liệu ngành dệt - may, da - giày; sản xuất thiết bị điện, linh kiện điện tử; vật liệu mới, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp phần mềm và công nghiệp môi trường; công nghiệp cơ khí, đóng, sửa tàu thuyền phục vụ đánh bắt xa bờ; sản xuất vật liệu xây dựng, cung cấp điện, nước, xử lý rác thải, nước thải; quản lý, khai thác, tái sử dụng có hiệu quả chất thải rắn trong sinh hoạt, sản xuất các phế phẩm, trang thiết bị, phương tiện... đã hết hạn sử dụng, có nguy cơ phát thải độc hại, gây ô nhiễm môi trường.

3. Xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích thu hút đầu tư, khai thác tốt các nguồn lực phục vụ phát triển công nghiệp

Tổ chức thực hiện tốt các chính sách, thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp; rà soát điều chỉnh, bổ sung các chính sách hỗ trợ đầu tư hạ tầng các khu, cụm công nghiệp cho phù hợp với tình hình thực tế; khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật; xây dựng, ban hành bộ tiêu chí kêu gọi đầu tư đối với từng ngành, lĩnh vực công khai, minh bạch, bình đẳng, hấp dẫn; đổi mới, nâng cao hiệu quả các hoạt động xúc tiến đầu tư; đẩy mạnh xúc tiến thương mại, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, mở rộng kênh phân phối trong và ngoài nước, nhất là hàng hóa chế biến.

4. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội

Thực hiện đồng bộ các giải pháp về phát triển nguồn nhân lực phục vụ phát triển công nghiệp; quan tâm đầu tư, phát triển, đổi mới trang thiết bị, nâng cao chất lượng đào tạo các cơ sở đào tạo nghề. Tăng cường đào tạo nâng cao kỹ năng nghề, tác phong công nghiệp cho lực lượng lao động, chú ý đào tạo nghề gắn với nhu cầu của doanh nghiệp; có cơ chế hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp tự đào tạo hoặc liên kết đào tạo nâng cao kỹ năng nghề nghiệp cho công nhân, người lao động; có cơ chế, chính sách hỗ trợ, khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư phát triển nhà ở xã hội, gắn với đầu tư hạ tầng thiết yếu về giao thông, y tế, giáo dục, văn hóa... đáp ứng nhu cầu về nhà ở của người có thu nhập thấp, nhất là công nhân, lao động trong các khu, cụm công nghiệp.

5. Bảo vệ môi trường, giữ vững an ninh trật tự an toàn dịch bệnh trong phát triển công nghiệp

Thực hiện đầy đủ, đúng quy định về đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đăng ký đầu tư theo quy định. Các khu, cụm công nghiệp đầu tư mới phải đảm bảo đồng bộ và đáp ứng các quy chuẩn, tiêu chuẩn về môi trường; ưu tiên lựa chọn các dự án ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sạch, thân thiện với môi trường; kiên quyết xử lý theo quy định đối với các trường hợp gây ô nhiễm, tác động xấu đến môi trường; có giải pháp giải quyết tốt vấn đề tro, xỉ của Trung tâm Điện lực Vĩnh Tân; chủ động nắm chắc tình hình, tập trung phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm, tệ nạn xã hội tại các khu, cụm công nghiệp và các địa bàn có đông công nhân sinh sống.

6. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước về phát triển công nghiệp

Thực hiện tốt công tác cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước và sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa các ngành, địa phương trong lĩnh vực công nghiệp. Rà soát, cơ cấu lại hệ thống quản lý công nghiệp ở các cấp, bảo đảm tập trung, thông suốt, hiệu quả, có phân công, phân cấp rõ ràng; thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý trong hoạch định và thực thi chính sách; tiếp tục duy trì các kênh đối thoại giữa chính quyền, cơ quan quản lý Nhà nước với các doanh nghiệp để kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình đầu tư, phát triển sản xuất, kinh doanh; đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện các dự án đã được chấp thuận đầu tư; chú ý công tác hậu kiểm; tăng cường áp dụng quản lý hệ thống truy xuất nguồn gốc các sản phẩm công nghiệp. Đẩy mạnh công tác đấu tranh chống buôn lậu, chuyển giá, trốn thuế, gian lận thương mại, hàng giả, vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trong sản xuất công nghiệp, bảo đảm môi trường lành mạnh trong sản xuất, kinh doanh./.

 

Tin liên quan